Thượng tá Nguyễn Xuân Giang - "Hồ sơ" Việt Hà và những cuộc cân não trong lòng địch
Trải qua hàng trăm trận đánh bằng tài cải trang xuất quỷ nhập thần, Thượng tá Nguyễn Xuân Giang – bí danh Việt Hà – đã trở thành nỗi kinh hoàng của bộ máy ác ôn Mỹ - Ngụy tại chiến trường Quảng Trị. Đằng sau những chiến công lẫy lừng như phá ngục, diệt tống đốc, là bản lĩnh sắt đá của người chiến sĩ tình báo nằm vùng và một thiên tình sử thủy chung đi qua 11 năm dầm dề máu lửa.
Năm 1963, trước yêu cầu cấp bách của tiền tuyến, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) quyết định tăng cường một lực lượng đặc biệt chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong đoàn quân thầm lặng ấy, Thượng tá Nguyễn Xuân Giang được giao trọng trách Đội trưởng trinh sát, rồi sau đó đảm nhiệm vị trí Phó Ban an ninh thị xã Quảng Hà, chuyên trách mảng trinh sát, điệp báo an ninh đô thị. Nhiệm vụ của ông là lần ra bằng được những hang ổ của các đối tượng ác ôn khét tiếng để lên phương án tiễu trừ.
Trận đánh mở màn cho chuỗi huyền thoại của ông là chuyến xuất kích tiêu diệt tên Phó Quận trưởng quận Hải Lăng – một kẻ phản bội cách mạng, cam tâm làm tay sai đắc lực cho địch. Để tiếp cận mục tiêu được bảo vệ nghiêm ngặt, Thượng tá Giang đã tự tay đạo diễn một kịch bản cải trang táo bạo: ông “diễn” vai một Trung úy bảo an thuộc bộ chỉ huy tỉnh, hiên ngang thâm nhập thẳng vào sào huyệt quận Hải Lăng.
Sau khi trừ khử thành công tên đại ác ôn phá hoại cơ sở cách mạng mà trước đó nhiều lần lực lượng bộ đội tổ chức ám sát không thành, tung tích của Nguyễn Xuân Giang đã bị động. Cái tên cũ không còn an toàn để hoạt động, cấp trên lập tức cho phép ông được thay tên đổi họ nhằm bảo toàn mạng lưới nằm vùng.
“Lúc đó trong lòng ngổn ngang trăm mối, biết lấy tên chi bây giờ. Cấp trên sốt ruột hỏi: 'Mi lấy tên chi hè?'. Bác liền trả lời: 'Tôi xin lấy tên Việt Hà.' Hà là tên của vợ tui ở quê, còn Việt là tên của nước Việt Nam. Bởi rứa, chuyện tên gọi của anh hùng Việt Hà ở chiến trường Quảng Trị, hay ra đến Quảng Bình gọi anh hùng Nguyễn Xuân Giang, thì đều là miềng [mình] đây cả”, ông Giang bùi ngùi nhớ lại.
Hồi tưởng về trận đánh xuất thần năm ấy, Thượng tá Giang kể: “Các cháu không biết chứ thời đó đóng vai Trung úy bảo an đối với cấp quận là uy quyền to lắm, như cấp trên về thanh tra vậy. Trưa ngày 6 tháng 8 năm 1966, bác cùng hai đồng chí cải trang mũ áo chỉnh tề, mang quân hàm Trung úy bảo an hiên ngang bước vào tổng hành dinh của địch. Vào đến phòng làm việc, bác nghiêm giọng ra lệnh: 'Tùng! Đứng dậy.' Hắn ngước lên nhìn bộ quân phục, cười giả lả rồi đứng phắt dậy hô: 'Chào Trung úy.' Bác nói tiếp với giọng lạnh băng: 'Đứng dậy, giơ tay lên.' Tên Tùng lập tức nảy sinh khả nghi, hắn chồm người định giật lấy vũ khí hộ thân nhưng miềng đã nhanh hơn một bước, khống chế và tiêu diệt hắn tại chỗ. Sau phát súng diệt gọn ấy, nội bộ phía địch hoang mang, dao động tột độ”.
Sau hơn một tháng điên cuồng tung các mạng lưới mật vụ lùng sục ráo riết, kẻ địch cuối cùng cũng tìm ra manh mối về người mang danh "Trung úy Giang". Chúng lập tức phát lệnh truy nã đặc biệt trên toàn cõi Bình Trị Thiên, từ các đô thị sầm uất cho đến những làng mạc hẻo lánh: kẻ nào bắt hoặc chỉ điểm được "Trung úy Giang" – tên Việt cộng nằm vùng nguy hiểm, sẽ được nhận phần thưởng trị giá 3 triệu đồng.
“Ua chua choa, 3 triệu đồng thời bấy giờ nó to khủng khiếp lắm. Các cháu tính xem, thời điểm ấy một chỉ vàng trị giá mới có 10 đồng bạc thôi he”, bác Giang bật cười nhớ lại quy mô cuộc lùng sục của kẻ thù.
Thế nhưng, lưới bủa giăng của giặc không ngăn được bước chân người chiến sĩ tình báo. Năm 1967, dưới danh tính mới đầy bí ẩn, Việt Hà đã đạo diễn thành công cuộc phá nhà lao Quảng Trị ngoạn mục, tổ chức giải cứu và phóng thích an toàn cho 260 cán bộ chính trị, công an du kích cùng bộ đội của ta đang bị giam cầm, tra tấn tại đây.
Đến năm 1971, Thượng tá Việt Hà tiếp tục khoác lên mình tấm áo cải trang mới: ông “diễn” vai một Đại úy an ninh thuộc binh chủng Thủy quân lục chiến Ngụy quyền để triệt hạ tận gốc cụm ác ôn đầu sỏ do tên Tôn Thất Phong cầm đầu. Sau trận đánh sấm sét ngay giữa lòng đô thị ấy, uy tín và danh tiếng của lực lượng An ninh cách mạng đã dội vang, chiếm trọn niềm tin yêu của quần chúng nhân dân.
Cầm trên tay những bức ảnh đen trắng đã ố mờ theo năm tháng được chụp từ thời chiến, Thượng tá Việt Hà xúc động nghẹn ngào: “Nằm sâu trong lòng địch hiểm nguy là thế nhưng miềng bám được vào dân. Dân tin, dân thương, dân sẵn sàng lấy mạng sống ra che chở, chính dân là người chỉ cho miềng thằng địch nào ác ôn nhất để đánh cho trúng, cho hiểm. Trải qua hàng trăm trận đánh, nếm trải bao nhiêu kỷ niệm mới thấu hiểu được dân mình đánh giặc thông minh, mưu trí hơn cả bộ đội, chiến sĩ”.
Cuộc chiến đấu tình báo, nằm vùng đơn độc giữa hang ổ kẻ thù luôn là cuộc chơi sinh tử đầy nghiệt ngã. Minh chứng hùng hồn là cả đoàn quân gồm 106 chiến sĩ tinh nhuệ do Bộ Nội vụ chi viện cho chiến trường Quảng Trị năm ấy, đến ngày hòa bình lập lại, chỉ còn duy nhất Thượng tá Việt Hà và một người đồng đội nữa may mắn sống sót trở về.
“Kháng chiến trường kỳ gian khổ lắm, miềng phải trú ẩn sâu trong rừng hoang, đói ăn đến mức anh em chiến sĩ phải hái từng chiếc lá đót mà nhai cầm hơi. Lúc hái cũng phải bảo nhau không được đào củ, phải để lại rễ để lá còn mọc tiếp cho những lần sau. Có những hôm may mắn bắt được con sóc rừng bé bằng bắp tay, anh em nấu loãng ra mà ăn dè sẻn đủ cho cả 21 'tỉnh' [trạm chốt]...”, ông bồi hồi nhớ về những năm tháng thắt lưng buộc bụng.
Lật lại những trang ký ức riêng tư, năm 1962, Thượng tá Việt Hà được đơn vị phê duyệt cho nghỉ vỏn vẹn 10 ngày để về quê cưới vợ. Nhưng hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, thành hôn mới được đúng 3 ngày, ông phải gạt nước mắt chia tay người vợ trẻ xinh đẹp để lập tức lên đường ra chiến trường. “Ngày bước chân đi, miềng ôm vợ hẹn ba năm sau kháng chiến thành công sẽ trở về, nhưng nào ngờ chuyến đi ấy kéo dài đằng đẵng mãi tận 11 năm sau...”
Thời kỳ đó, việc thông tin liên lạc giữa tiền tuyến và hậu phương vô cùng trắc trở. Một lá thư gửi đi nhanh thì mất sáu tháng, chậm thì phải ròng rã cả năm trời mới tới tay người nhận. Thư từ Quảng Trị muốn gửi về Quảng Bình phải đi đường vòng qua đất bạn Lào, vượt qua muôn trùng thác ghềnh, sông suối và bom đạn ác liệt, rồi mới quay ngược ra Hà Nội trước khi được chuyển về quê nhà.
Điều đặc biệt là trên mỗi bức thư tình gửi về cho người vợ thân yêu, bác Giang đều đề địa chỉ người gửi là: Số nhà 54, đường Trần Hưng Đạo, Quảng Trị. Thực chất, đây là một địa chỉ "ma", một mật hiệu tác chiến do Ban An ninh tỉnh quy định nhằm đánh lạc hướng mạng lưới kiểm duyệt của địch, tương tự như các ám hiệu mật S9, A3… nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cơ sở đặc tình đang hoạt động.
Giữa thời chiến, mỗi lá thư cũng có một sinh mạng gian truân như một người chiến sĩ. Chúng phải đi qua làn đạn bay vèo vèo, băng rừng lội suối, quăng quật cùng máu xương thì ngày hòa bình mới có thể vẹn nguyên trở về với người thân, bằng không sẽ mãi mãi thất lạc dưới lòng đất lạnh.
“Dẫu biết xa xôi là thế, nhưng tinh thần cách mạng thời ấy cao ngút trời, nó khiến chiến sĩ miềng sẵn sàng quên đi tình riêng, quên đi nỗi nhớ quê nhà để say sưa chiến đấu. Lúc ở chiến trường, miềng chỉ đau đáu một nỗi thương anh em, đồng đội hy sinh nằm lại chiến tuyến mà không cách nào lấy được xác về…”
Bà Hà – người vợ tào khang của ông – ngồi bên cạnh lặng lẽ tiếp lời chồng: “Mười một năm đằng đẵng xa chồng, niềm hy vọng duy nhất của tôi chỉ là những lá thư mong manh ấy. Mỗi lần nhận được thư, tôi chỉ biết được rằng tính đến ngày viết thư là anh ấy còn sống, còn những năm tháng dài đằng đẵng còn lại cứ phải nhắm mắt lại để cố quên đi nỗi lo sợ… Cuộc đời tôi cứ quay cuồng giữa đau khổ, tuyệt vọng rồi lại hy vọng. Đến ngày anh bằng xương bằng thịt trở về đứng trước cửa, tôi suýt chút nữa đã không nhận ra chồng mình”.
Hồi tưởng lại những thước phim cuộc đời với những phen “diễn” vai sĩ quan địch ngay giữa trận tiền, Thượng tá Việt Hà đúc kết: “Nằm vùng trong lòng địch cái khó nhất là ở bản lĩnh của miềng, làm răng cho nó ngỡ miềng chính là đồng bọn của nó. Nó đang làm tay sai cho Mỹ thì mình phải biến nó thành tay sai cho miềng. Từ phong thái, điệu bộ cho đến lời nói phải toát ra cái uy của kẻ bề trên. Quần áo cải trang của quân địch phải chuẩn chỉ từng chi tiết, từ chiếc mũ nỉ, bộ quân phục cho đến cấp hiệu quân hàm. Nay muốn cải trang thành quân dù, phải có đúng quần áo và điệu bộ nghênh ngang của lính dù; hôm sau cải trang thành biệt động thì phải mang đúng phong thái tinh ranh của lính biệt động…”
Băng qua những thăng trầm của lịch sử, người cựu chiến sĩ an ninh tình báo năm xưa trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, người đã từng trực tiếp "diễn" vai địch xuất sắc trong hơn một trăm trận đánh lớn nhỏ, nay đã bước qua tuổi thất thập. Ông xuất hiện trước mắt chúng tôi với phong thái rất "thanh niên" trong bộ pyjama sáng màu, đầu đội chiếc mũ cựu chiến binh quen thuộc. Đứng bên chiếc xe Honda Cup 67 huyền thoại – chứng nhân của một thời oanh liệt, ông cười đôn hậu và vẫy tay chào tạm biệt chúng tôi, để lại hình bóng một tượng đài sống động bên con đường mòn lịch sử.



