Bài viết

Thượng tướng AHLLVTND Phạm Thanh Ngân

Thượng tướng AHLLVTND Phạm Thanh Ngân - là một trong những phi công Việt Nam được công nhận Danh hiệu Aces - danh hiệu công nhận cho các phi công quân sự bắn hạ từ 5 chiếc máy bay đối phương trở lên

Tây Ninh16/04/2026Đoàn Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh (Đoàn Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thượng tướng AHLLVTND Phạm Thanh Ngân - là một trong những phi công Việt Nam được công nhận Danh hiệu Aces - danh hiệu công nhận cho các phi công quân sự bắn hạ từ 5 chiếc máy bay đối phương trở lên.(02 Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhất; 03 Huân chương Chiến công hạng Nhì; 03 Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba); Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; 8 Huy hiệu Hồ Chí Minh).

Ông sinh ngày 18/4/1939 tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, quê gốc của ông là ở huyện Tiên Lữ, Hưng Yên. Tháng 6 năm 1957, ông tham gia hoạt động Đoàn Thanh niên tại địa phương. Ngày 21/3/1959, ông nhập ngũ, trở thành chiến sĩ trinh sát rồi Tiểu đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 374, Sư đoàn 351 Pháo binh.Trong một đợt kiểm tra tuyển quân, ông trúng tuyển và được đưa đi huấn luyện tại Trường dự khóa bay ở sân bay Cát Bi (Hải Phòng) vào tháng 4/1961. Tháng 10 năm đó, ông được cử sang Liên Xô học lái máy bay MiG-17. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 8/12/1963, kết nạp chính thức ngày 8/9/1964, khi đang học tại Liên Xô. Tháng 10/1964, ông trở về nước và trở thành sĩ quan lái máy bay MiG-17 tại Trung đoàn 921 Không quân. Tuy nhiên, đến tháng 8/1965, ông tiếp tục được cử đi học lái máy bay MiG-21 tại Liên Xô. Tháng 6/1966, ông về nước và lần lượt giữ chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng lái máy bay MiG-21 tại Đoàn không quân Sao Đỏ. Từ đây, ông bắt đầu trực tiếp tham gia chiến đấu.Trong thời gian từ 1966-1968, ông đã cùng đồng đội tham gia chiến đấu và trực tiếp bắn rơi 8 máy bay của đối phương và chỉ huy đơn vị bắn rơi 8 máy bay khác. Ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng 8 huy hiệu vì thành tích này. Tháng 7/1968, ông được đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tiêu biểu hai miền Nam Bắc.Cùng tháng 12/1968, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng một chiếc đồng hồ vì thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 18/6/1969 khi đang là Đại úy, Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Không quân 921. Điều đặc biệt là 2 trong số máy bay MiG-21 mà ông từng điều khiển, mang số hiệu 4324 và 4326, đều là những chiếc máy bay có số lần bắn hạ đối phương cao nhất (4324 với 14 lần và 4326 với 13 lần), đồng thời cũng có số lượng phi công từng điều khiển đạt đẳng cấp Ace nhiều nhất, được phong anh hùng nhiều nhất và trở thành tướng lĩnh nhiều nhất.Tháng 9/1970, ông lại được cử sang Liên Xô theo học tại Học viện Không quân Gagarin. Mãi đến thang 9/1975, ông mới trở về nước và tham gia viết tài liệu tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 6 năm 1977, ông được cử làm sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 371, thuộc Quân chủng Không quân vừa được thành lập. Tháng 8/1978, ông được cử đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Tháng 5/1989, ông trở về làm Sư đoàn phó, sau đó thăng làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371. Tháng 8/1982, lần thứ 4 ông đến liên xô học tập, Học viện Bộ Tổng tham mưu Voroshilov. Tháng 7/1984, ông về nước và được cử giữ chức vụ Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, đến tháng 2/1985, được thăng làm phó tham mưu trưởng thứ nhất Quân Chủng Không quân tháng 9/1986, thăng làm Phó Tư lệnh về chính Trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng kiêm chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân cho đến tháng 10/1987, ông thôi chức Chủ nhiệm Chính trị, nhưng vẫn là Phó Tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng. Tháng 6/1988, ông được thăng quân hàm Thiếu Tướng.Tháng 4/1989, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Không quân. Tháng 9/1991, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII với cương vị Tư lệnh Quân chủng Không quân. Tháng 6/1992, ông được thăng hàm Trung tướng. Tháng 01/1996, ông được bầu tiếp làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII. Tháng 5 năm đó, ông được phân công làm phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tháng 7/1997, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa X. Tháng 12/1997, ông được bầu vào Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII. Từ tháng 01/1998, ông được phân công làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 11/1999, ông được thăng hàm Thượng tướng. Tháng 5/2001, ông thôi chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, được phân phụ trách Ban Tổng kết chiến lược về Quân sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị. Một năm sau, ông nghỉ hưu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn