Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Thượng tướng Đào Đình Luyện – Người “anh cả” của phi công tiêm kích Việt Nam

Là người trực tiếp chỉ huy bộ đội Không quân từ cấp Trung đoàn đến Tư lệnh Binh chủng, Đào Đình Luyện đã có mặt tham gia nhiều sự kiện nổi tiếng: Tháng 9 năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông đã thay mặt lãnh đạo Binh chủng Không quân giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 921 tổ chức một đội bay đặc biệt bay trong Lễ tang.

Hưng Yên26/11/2025Đặng Vương Hưng (Tạp chí Văn hóa phát triển)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Thượng tướng Đào Đình Luyện – Người “anh cả” của phi công tiêm kích Việt Nam

Nhiều năm sau này, cựu phi công Nguyễn Hồng Mỹ đã xúc động kể lại với phóng viên Tiền Phong:

Sáng ngày 3 tháng 9 năm 1969, toàn bộ phi công của 3 phi đội thuộc Trung đoàn 921 tập trung trực tiếp nghe đồng chí Đào Đình Luyện khi đó là Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân và đồng chí Nguyễn Xuân Mậu – Phó Chính uỷ Quân chủng phổ biến nhiệm vụ. Khi đó, tôi mới biết là Bác Hồ đã mất và nhiệm vụ của chúng tôi là bay trong lễ tang của Người. Cuối buổi nhận lệnh, Phó Tư lệnh Quân chủng nói nhiệm vụ rất quan trọng, khó khăn, anh em có sẵn sàng nhận lệnh và hoàn thành tốt hay không? Tất cả đều đồng thanh: Sẵn sàng!

Trong số gần 50 phi công lái MiG 21 khi đó, đơn vị chỉ chọn 12 phi công ưu tú nhất, những người đã có nhiều giờ bay, tham gia chiến đấu nhiều trận với không quân Mỹ.

Theo kế họach, chúng tôi chia làm 3 biên đội. Biên đội 1 do Phi công Nguyễn Hồng Nhị - chỉ huy, các phi công khác là: Lê Toàn Thắng - số 2, Phạm Đình Tuân - số 3, Nguyễn Đức Soát - số 4. Tôi bay ở vị trí số 4 của biên đội 2, những đồng chí còn lại gồm: Nguyễn Văn Lý - chỉ huy, Phạm Phú Thái - số 2, Lê Thanh Đạo - số 3. Biên đội 3 gồm: Mai Văn Cương - chỉ huy, Phan Thành Nam - số 2, Nguyễn Văn Khánh - số 3, Nguyễn Văn Long - số 4. Đơn vị còn cử thêm 2 đồng chí là Bùi Đức Nhu và Đặng Ngọc Ngự làm phi công dự bị cho 3 biên đội để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Chúng tôi đều là những phi công đã có nhiều kinh nghiệm, nhưng chưa ai trong số đó bay theo đội hình diễu binh cả. Khi tôi học ở Liên Xô cũng như khi về nước chiến đấu thì cũng chỉ bay với 2 hoặc 3 đồng chí thôi. Sau nhiều lần bàn thảo, cuối cùng chúng tôi thống nhất phương án là tất cả 12 máy bay đều mở máy đồng loạt, Sở chỉ huy hạ lệnh cất cánh thì 2 chiếc một lăn ra đường băng cất cánh, cự ly lúc chạy đà trên đường băng ngang cách nhau khoảng 20 - 30 mét.

Sau khi 12 chiếc cất cánh xong, tập hợp đội hình ở độ cao khoảng 1.000 mét, lúc này mới chia thành 3 tốp, mỗi tốp 4 chiếc theo hàng dọc. Biên đội sẽ bay theo hình bàn tay xòe, cách nhau khoảng 600 mét và cự ly giãn cách giữa các máy bay với nhau khoảng 20 đến 30 mét.

Khi bay vào Quảng trường Ba Đình phải bảo đảm ở độ cao khoảng 300m và hơi chếch về bên trái lễ đài dọc theo đường Hùng Vương, như vậy mới bảo đảm sự thiêng liêng của buổi lễ và để toàn thể nhân dân dự buổi Quốc tang có thể nhìn rõ.

Bên cạnh đó, yêu cầu về thời gian là vô cùng nghiêm ngặt, bởi đã có sự phối hợp hiệp đồng với mặt đất, sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc xong câu cuối của bài điếu văn, đội hình bay sẽ phải xuất hiện trên bầu trời Ba Đình, và nếu không tính toán cẩn thận thì có thể sẽ làm hỏng buổi Lễ Quốc tang.

Sáng 9 tháng 9, chúng tôi dậy sớm hơn thường lệ, tập trung đông đủ ở Sở chỉ huy của Trung đoàn nhận nhiệm vụ. Khi đó, trực tiếp Phó Tư lệnh Quân chủng Đào Đình Luyện cùng Phó Chính ủy Quân chủng Nguyễn Xuân Mậu giao nhiệm vụ. Tại sở chỉ huy Trung đoàn, trực tiếp là Trung tá Trần Hanh - Trung đoàn phó Trung đoàn 921 chỉ huy.

Đúng 9 giờ, toàn bộ biên đội cất cánh, bay một vòng và tập trung đội hình ở khu vực Phủ Lỗ, sau đó thẳng hướng Quảng trường Ba Đình. Hôm đó thời tiết khá thuận lợi nên khi vào đến địa phận nội đô, tôi nhìn rõ Hồ Tây, Quảng Trường… Khi máy bay bay qua Quảng trường lần đầu tiên tôi cảm thấy chân mình tê tê, tay run run… Tôi cố trấn tĩnh lại và tập trung trí óc thực hiện tốt các thao tác đã đề ra.

Ngay sau khi hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, chúng tôi nhận được điện thoại từ sở chỉ huy Trung đoàn là đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ. Khi đó, cảm giác thật khó tả! Niềm xúc động dâng trào vì mình vừa hoàn thành một công việc cực kỳ quan trọng bằng cả tình cảm, trái tim và lý trí.

Từ cuối năm 1969, không quân ta đã cơ động một lực lượng MiG-17 và MiG-21 vào Thọ Xuân (Thanh Hoá) để hoạt động chiến đấu trên chiến trường Nam khu 4 và trực tiếp bảo vệ các cửa khẩu trên tuyến hành lang chiến lược, trong đó có nhiệm vụ quan trọng và mới mẻ là: Tổ chức theo dõi, nghiên cứu sự hoạt động của B-52 và chuẩn bị đánh B-52.

Tác giả Ngọc Phúc (QĐND) cho biết: Để hoàn chỉnh phương án đánh B-52, năm 1971, Quân chủng Phòng không-Không quân tập trung lực lượng lớn gồm những cán bộ giỏi nhất về dẫn đường bay, tác chiến, quân báo, khí tượng, ra-đa, thông tin đến những cán bộ chỉ huy. Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Không quân tiền phương được thành lập. Sở chỉ huy tại thôn Đông Dương, ra-đa B35 dẫn đường cách sở chỉ huy khoảng 2 km tại thôn Pháp Kệ cùng với ra-đa đo cao PD11 và phía đông bắc cách sở chỉ huy 7 km ở thôn Văn Tiền đặt ra-đa C47. Như vậy là ngoài hai ra-đa phục vụ nghiên cứu đánh B-52 còn có hai ra-đa phục vụ cho sở chỉ huy đặt ở huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và ở giới tuyến 17 Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị của Đại đội 31. Công tác nghiên cứu đánh B-52 được tiến hành khẩn trương, từng bước từng bước một. Công việc đầu tiên của Sở chỉ huy là làm thế nào để ra-đa ta bắt được B-52 bằng cách thường xuyên mở máy theo dõi. Hằng đêm mở máy vào các giờ cố định: 19 giờ, 21 giờ, 24 giờ và 5 giờ sáng. Khi nào có tin B-52 vào đánh các mục tiêu đều phải mở máy theo dõi. Nhưng một tháng đầu không bắt được gì cả. Nhiễu nhòe nhoẹt trước màn hình ra-đa. Sở chỉ huy thường xuyên tập trung nghiên cứu tìm ra lí do. Đến tháng thứ hai, ra-đa bắt được những vệt nhiễu B-52 nhưng chưa hình thành được đường bay B-52. Tháng thứ ba, tình hình không có gì khả quan hơn. Cho đến gần cuối tháng thứ ba, ngày 4-10 ra-đa mới bắt được tương đối B-52. Sở chỉ huy quyết định đưa phi công Đinh Tôn cất cánh từ sân bay Đồng Hới lên đánh. Phát hiện thấy MiG xuất kích, B-52 bay ra. Sau một tháng nghiên cứu tiếp, cho đến 20 tháng 11, Sở chỉ huy quyết định đánh theo phương án mới. Không xuất kích từ sân bay Đồng Hới mà dùng sân bay Anh Sơn làm địa điểm cho Mic-21 xuất kích đánh B-52…

Và ngày 20 tháng 11 năm 1971, từ đài chỉ huy trung tâm Tư lệnh Đào Đình Luyện hội ý với Phó tư lệnh Trần Mạnh rồi hạ lệnh cho phi công Vũ Đình Rạng xuất kích, bay dọc núi Trường Sơn theo hướng Đông-Nam cũng là lúc ba chiếc B-52 vượt sông Cửu Long, đang bay thẳng đến mục tiêu gây tội ác trên đường Trường Sơn. Cánh sóng ra-đa do Lê Thiết Hùng chỉ huy bám sát mục tiêu - cả B-52 và chiếc MiG-21 đã hiện lên trên màn hình. Cả sở chỉ huy tiền phương gần như nín thở, hồi hộp chờ đợi. Tình huống trên bản đồ chỉ huy đã rõ, sĩ quan Nguyễn Văn Chuyên trên tay cầm thước hình tam giác có vòng phương vị và vạch sẵn cự li, anh đo khoảng cách từ B-52 đến MiG-21 và theo dõi chặt chẽ diễn biến trên bàn chỉ huy rồi báo cáo đề nghị thủ trưởng cho tiếp cận địch. Nguyễn Văn Chuyên lệnh cho Vũ Đình Rạng vứt thùng dầu phụ. Lê Thiết Hùng trực tiếp dẫn trên hiện sóng, cho Vũ Đình Rạng vòng trái rồi liên tục thông báo tình hình địch. Đường bay của Vũ Đình Rạng áp dần đường bay tốp B-52. Tư lệnh Đào Đình Luyện trao đổi nhanh với Phó tư lệnh Trần Mạnh rồi nhắc nhở ra-đa quan sát máy bay địch bám đuôi khi Vũ Đình Rạng công kích. Chiếc én bạc của Vũ Đình Rạng còn cách tốp B-52 20 km, ông ra lệnh cho sân bay Anh Sơn và Thọ Xuân chuẩn bị cho Rạng hạ cánh sau khi công kích trở về. Vũ Đình Rạng tiếp tục bám sát mục tiêu. Khi khoảng cách giữa Mic-21 với tốp B-52 chỉ còn khoảng 15km, Lê Thiết Hùng lệnh cho Vũ Đình Rạng mở máy ra-đa. Bật công tắc, Rạng reo lên: “Đã thấy B-52 ở cự li 11 km, xin cho công kích!”. Trung tá Trần Hanh hạ lệnh: “Cho phép công kích!”. Vũ Đình Rạng tăng tốc độ tiếp cận tốp B-52 nhanh nhất, một chiếc B-52 đã được đưa vào vòng ngắm. Vùng phóng đã xuất hiện, Vũ Đình Rạng nhẩm đếm một, hai, ba… Cho đến khi chỉ còn cách chiếc B-52 dưới 2,5 km, đường ngắm ổn định, Vũ Đình Rạng bấm nút phóng, một quả tên lửa lao vút về phía B-52, chớp lửa sáng rực bùng lên từ chiếc “pháo đài bay”. Sau đó, ông làm động tác thoát li về sân bay Anh Sơn và hạ cánh an toàn.

Do chiếc B-52 rất lớn nên sức công phá của 1 quả tên lửa chưa đủ làm nó rơi ngay, và phi công Rạng cũng cho rằng mình chưa hạ được B-52. Nhưng theo lời kể sau này của Thiếu tá phi công F. Wantterhahn thì chiếc B-52 đó bị thủng thùng dầu bên trái, bị cháy nhưng dập được lửa, một động cơ bị hỏng nặng, nó phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Nakhom- Phanom ở Đông Bắc Thái Lan. Sau đó do hỏng quá nặng nên không thể sửa chữa, bị xẻ ra rồi chở về Utapao, nên có thể coi như là đã bị tiêu diệt.

Đấy cũng là lần đầu tiên trong lịch sử tiêm kích của không quân thế giới, có một phi công đã điều khiển MIG-21 đã bắn gục “pháo đài bay bất khả xâm phạm” B-52 của Mỹ. Sự kiện này đã làm cho địch phải ngừng hoạt động một thời gian, tạo điều kiện cho vận chuyển tiếp tế vào chiến trường Miền Nam.

Trong khi người Mỹ tuyên bố đã hạ được 103 chiếc MiG-17 và MiG-21 trong khoảng thời gian từ 17 tháng 6 đến 12 tháng 1 năm 1973, thì phía Không quân Việt Nam cũng công bố đã bắn rơi 320 máy bay Mỹ, trong đó có hai chiếc B-52, do các phi công MiG-21 là Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều bắn rơi ngày 27 và ngày 28 tháng 12 năm 1972.

Với chiến thuật “không quân đánh du kích”, ngày 14 tháng 4 năm 1972, Tư lệnh Đào Đình Luyện còn chỉ huy hai máy bay MiG-17 cất cánh từ sân bay Khe Gát, bất ngờ xuất hiện trên vùng trời Quảng Bình ném 2 quả bom 250 kg trúng vào tàu khu trục Highbee của Mỹ, khiến nó bị thương nặng. Đây cũng là lần đầu tiên không quân của một quốc gia khác đã tiến công hạm đội Hải quân Mỹ, kể từ sau Thế chiến thứ hai; mở ra triển vọng mới làm tiền đề cho việc xây dựng và chiến đấu của bộ đội không quân tiêm kích bom sau này.

Có lẽ, một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của Tướng Đào Đình Luyện là những trận đánh làm nên lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12 năm 1972. Trước khi vào chiến dịch cuộc đọ sức quyết đấu lịch sử này, ông đã thay mặt Binh chủng Không quân trực tiếp báo cáo các phương án với Bộ Tổng tham mưu; góp phần quan trọng làm kế hoạch của không quân của Mỹ cuối năm 1972 hoàn toàn thất bại (xem thêm bài Cuộc quyết đấu lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” và ảnh hưởng của vấn đề tù binh phi công Mỹ tại hội nghị Paris).

Đặc biệt, là trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, lực lượng Không quân Việt Nam đã viết thêm những trang sử độc đáo: Bất ngờ, sử dụng máy bay địch để đánh vào một trong những điểm yếu nhất của chúng. Ngày 28 tháng 4, khi những quả bom từ máy bay Mỹ, do phi công ta lái đồng loạt trút xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đã phá hủy nhiều máy bay, cắt đứt cầu hàng không di tản của địch… đã có giá trị như hiệu lệnh tổng công kích cho đại quân ta đồng loạt tiến công giải phóng Sài Gòn!

Tư liệu của Đất Việt cho biết: Phi đội đặc biệt này lấy tên "phi đội quyết thắng" với 6 phi công: Nguyễn Thành Trung, Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hoàng Mai Vương, Trần Văn On, Hán Văn Quảng cùng 5 máy bay cường kích A-37 thu được của địch.

Các phi công ta từ ngoài Bắc được khẩn trương huấn luyện chuyển loại từ MiG-17 sang A-37. Chỉ sau 5 ngày bay chuyển loại, 16 giờ 17 phút cả phi đội đã cất cánh. Mặc dù thời tiết phức tạp, Nguyễn Thành Trung (số 1) vẫn bình tĩnh dẫn đội hình bay đến sân bay Tân Sơn Nhất.

Từ độ cao khoảng 1.600m, Nguyễn Thành Trung bổ nhào cắt bom nhưng bom không ra. Từ Đễ (số 2) cắt bom 2 quả/lượt, cả 4 quả bom rơi trúng mục tiêu, những cột khói bốc lên giữa khu vực để máy bay. Trong ống nghe của các phi công vang lên tiếng quát hỏi hoảng hốt: “A-37 của phi đoàn nào?” không ai trả lời.

Tiếp đó, Nguyễn Văn Lục (số 3), Hoàng Mai Vương và Trần Văn On (số 4), Hán Văn Quảng (số 5) bổ nhào cắt bom. Những trái bom đều rơi trúng mục tiêu. Không quân ngụy hoàn toàn bị bất ngờ, tới lúc số 5 vào cắt bom chúng mới biết. Qua vô tuyến, phi công ta nghe được những tiếng kêu: “Tân Sơn Nhất bị oanh kích”.

Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Văn Lục nhanh chóng vào cắt bom lần thứ hai, nhưng đến lần thứ ba Nguyễn Thành Trung phải cắt bom bằng hệ thống “khẩn cấp”, 4 quả bom mới rời khỏi máy bay, một khối lửa lớn bùng lên từ bãi đỗ những máy bay F-5 đang đậu… Trận tập kích đã phá hủy và làm hỏng nặng cụm máy bay tập trung ở khu vực sân đỗ gồm 24 chiếc A-37 và F-5E, 4 chiếc máy bay vận tải, tiêu diệt hàng trăm tên địch.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Thượng tướng Đào Đình Luyện – Người “anh cả” của phi công tiêm kích Việt Nam | Câu chuyện thời hoa lửa