Thượng tướng Đinh Đức Thiện
Thượng tướng Đinh Đức Thiện
Sinh ra trong gia đình truyền thống cách mạng, ông là em trai của đồng chí Lê Đức Thọ, anh trai của Đại tướng Mai Chí Thọ. Ông còn được biết đến là Cục trưởng đầu tiên của Cục Vận tải quân đội, người có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng hệ thống hậu cần, bảo đảm chi viện cho các chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Thượng tướng Đinh Đức Thiện tên thật là Phan Đình Dinh, sinh năm 1913 tại xã Nam Vân, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định cũ (nay là phường Hồng Quang, Ninh Bình). Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu nước, cha mất sớm, mẹ tần tảo nuôi 8 người con, trong hoàn cảnh kinh tế hết sức khó khăn.
Đặc biệt, trong số 8 người con ấy thì ba người là: Phan Đình Khải (tức đồng chí Lê Đức Thọ), Phan Đình Dinh (tức đồng chí Đinh Đức Thiện), Phan Đình Đống (tức đồng chí Mai Chí Thọ) là Ủy viên Trung ương Đảng, trong đó đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Mai Chí Thọ là Ủy viên Bộ Chính trị và đều được phân công giữ những trọng trách lớn của Đảng và Nhà nước.

Từ trái sang: Phó Tư lệnh Trần Văn Trà, đại diện Bộ Chính trị tại Mặt trận Lê Đức Thọ, Tư lệnh Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư lệnh Đinh Đức Thiện trong Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh (Lộc Ninh, tháng 4/1975). Ảnh: Tư liệu.
Với điều khoản buộc Mỹ rút toàn bộ quân đội khỏi Việt Nam, Hiệp định Paris năm 1973 trở thành một bước ngoặt quan trọng, tạo tiền đề để quân và dân ta tiến tới thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Thành công của Hiệp định Paris là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao. Đáng chú ý, trong thắng lợi mang tính lịch sử ấy có những đóng góp quan trọng của cả ba anh em ruột trong gia đình họ Phan: Lê Đức Thọ, Đinh Đức Thiện và Mai Chí Thọ.
Nếu tại Paris, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ thể hiện bản lĩnh và tài năng ngoại giao sắc sảo, góp phần giữ thế chủ động cho đoàn đàm phán Việt Nam; thì ở trong nước, hai người em của ông là Đinh Đức Thiện và Mai Chí Thọ cũng đảm nhiệm những trọng trách đặc biệt quan trọng trên mặt trận quân sự, trực tiếp góp phần tạo nên những chuyển biến có lợi cho cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán.
Từ năm 1968, trong bối cảnh chiến tranh diễn ra ác liệt và các cuộc đàm phán tại Paris bắt đầu, Mỹ tiếp tục tăng cường các hoạt động quân sự nhằm gây sức ép. Về phía Việt Nam, việc đẩy mạnh chi viện sức người, vũ khí, lương thực và nhiên liệu cho chiến trường miền Nam trở thành nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với khả năng duy trì và phát triển thế tiến công.

Thượng tướng Đinh Đức Thiện (trái) và đồng chí Lê Đức Thọ. Ảnh: Tư liệu.
Tuy nhiên, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn khi ấy gặp vô vàn khó khăn, đặc biệt là tình trạng thiếu xăng dầu nghiêm trọng khiến hoạt động vận chuyển có thời điểm gần như đình trệ. Tháng 4/1968, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên phải gửi điện khẩn về Bộ Quốc phòng, báo cáo tình trạng phương tiện không thể tiếp tục hoạt động vì cạn nhiên liệu. Nếu xăng dầu và lương thực không được bổ sung kịp thời, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường có nguy cơ rơi vào tình trạng thiếu đói.
Trước tình thế cấp bách, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần khi đó là Đinh Đức Thiện đã đưa ra một đề xuất táo bạo: xây dựng hệ thống đường ống vận chuyển xăng dầu xuyên Trường Sơn. Phương án này được Quân ủy Trung ương chấp thuận, mở ra bước chuyển quan trọng trong công tác bảo đảm nhiên liệu cho chiến trường.
Từ giữa năm 1968, tuyến đường ống đầu tiên dài khoảng 42km được triển khai, nối Nam Thanh (Nam Đàn, Nghệ An) với Nga Lộc (Hà Tĩnh), đưa xăng dầu vượt qua khu vực được mệnh danh là “tam giác lửa” Vinh - Nam Đàn - Linh Cảm. Từ tuyến ống ban đầu, hệ thống vận chuyển nhiên liệu tiếp tục được mở rộng, từng bước vượt qua địa hình hiểm trở của dãy Trường Sơn để phục vụ các chiến trường phía Nam.
Đến đầu năm 1973, thời điểm Hiệp định Paris được ký kết, lực lượng hậu cần đã xây dựng được hệ thống đường ống xăng dầu dài hơn 1.000km, tạo nên một tuyến vận chuyển nhiên liệu chiến lược, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị hậu cần cho giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến.
Trong khi Đinh Đức Thiện tập trung giải quyết bài toán hậu cần từ hậu phương, người em út Mai Chí Thọ lại trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc chiến đấu tại chiến trường miền Nam, nơi diễn ra những cuộc đối đầu quyết liệt với quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Trên cương vị Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, Chính ủy Quân khu Sài Gòn - Gia Định, Mai Chí Thọ tham gia lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang và phong trào cách mạng ngay tại địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng này. Trong đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là một dấu mốc có ý nghĩa lớn, góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh, tác động mạnh đến chính sách của Mỹ và thúc đẩy tiến trình đàm phán Paris.
Đây cũng là một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam: ba người con của cùng một gia đình, hoạt động trên những mặt trận khác nhau, đều góp sức vào cuộc đấu tranh đưa đất nước đến ngày thống nhất.
Sớm tham gia cách mạng, trở thành "anh cả" của ngành vận tải quân sự
Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930, Đinh Đức Thiện sớm bị thực dân Pháp bắt giam tại Nam Định. Năm 1931, do không đủ chứng cứ buộc tội, ông được trả tự do. Sau đó, ông vào Sài Gòn làm công nhân, tiếp tục hoạt động trong Hội Ái hữu công nhân và phong trào Mặt trận Dân chủ. Năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Đồng chí Đinh Đức Thiện (trái) làm việc trong Sở chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Tư liệu.
Tháng 4/1940, ông bị bắt lần thứ hai, lần lượt bị giam tại Nam Định và nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Ra tù năm 1943, dù bị chính quyền thực dân theo dõi gắt gao, ông vẫn bí mật gây dựng phong trào cách mạng và nối lại liên lạc với Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1944, ông được điều lên Vĩnh Yên, tham gia Ban Cán sự Đảng tỉnh, sau đó giữ chức Bí thư Tỉnh ủy.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đinh Đức Thiện được giao làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Bắc Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị lãnh đạo tại Khu 12, Khu 1 và Liên khu Việt Bắc, phụ trách công tác kinh tế.
Cuối năm 1949, ông được Trung ương điều động vào quân đội, giữ chức Cục trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Cục Vận tải. Trên cương vị này, ông có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng lực lượng vận tải quân sự, đẩy mạnh sử dụng phương tiện cơ giới kết hợp vận tải thô sơ, đáp ứng nhu cầu hậu cần cho các chiến dịch lớn. Sau năm 1954, ông được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần.
Tháng 6/1959, Đinh Đức Thiện chuyển sang lĩnh vực công nghiệp, giữ chức Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, đồng thời trực tiếp chỉ đạo xây dựng Khu Gang thép Thái Nguyên. Từ giữa năm 1962, ông đảm nhiệm chức Giám đốc Công ty Gang thép Thái Nguyên. Dưới sự lãnh đạo của ông cùng tập thể cán bộ, công nhân, khu liên hợp luyện kim đầu tiên của miền Bắc từng bước hình thành, cho ra những mẻ gang đầu tiên vào cuối năm 1963, đánh dấu bước phát triển quan trọng của ngành công nghiệp luyện kim Việt Nam.
Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, Đinh Đức Thiện được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đầu năm 1965, khi Mỹ mở rộng chiến tranh, ông được điều trở lại quân đội, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, tham gia Quân ủy Trung ương, trực tiếp chỉ đạo công tác chi viện cho chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia.
Năm 1969, ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Cơ khí - Luyện kim, sau đó kiêm nhiệm chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Tháng 4/1974, ông được phong quân hàm Trung tướng, đồng thời đảm nhiệm chức Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ông tham gia chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên, sau đó giữ chức Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Thượng tướng Đinh Đức Thiện và chuyện "gạo bốn túi"
Trích trong cuốn "Đinh Đức Thiện - Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một vị tướng hậu cần tài trí" của NXB Phụ nữ có ghi lại: “Gạo ăn hàng ngày của bộ đội ở các chiến trường miền Nam phần lớn phải vận chuyển từ miền Bắc vào. Từ các kho hậu phương, gạo phải qua tuyến vận tải 559, vận chuyển thô sơ, gùi, thồ của các đơn vị rồi mới vào đến chiến trường, trên đường đi còn gặp mưa nắng. Vào đến chiến trường còn không được đưa ra sử dụng ngay mà phải dự trữ một thời gian dài nên khi đến tay bộ đội gạo đa phần là kém chất lượng, ẩm mốc, mối mọt.
Nhưng bộ đội vẫn phải ăn vì không có gì thay thế cả. Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng cán bộ chiến sĩ hay mắc bệnh tê, phù, có nơi phát triển như một loại dịch bệnh. Đồng chí Đinh Đức Thiện đã chỉ thị cho Viện Nghiên cứu ăn mặc quân đội phải nghiên cứu cách đóng gói gạo làm sao để bảo quản được ít nhất một năm. Gạo bốn túi ra đời trong hoàn cảnh đó. Bốn lớp túi gồm: lớp trong cùng bằng đay, lớp thứ hai là Polyetylen, lớp thứ ba bằng PVC chống ẩm, chống nước, ngoài cùng là túi bao gai. Gạo bốn túi có thể để được 2-3 năm mà không bị hỏng”.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đinh Đức Thiện chuyển sang lĩnh vực kinh tế, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ quan trọng tại Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Tổng cục Dầu khí và Bộ Giao thông vận tải. Ông có nhiều đóng góp trong khôi phục kinh tế sau chiến tranh, đặt nền móng phát triển ngành dầu khí, xây dựng những cơ sở ban đầu của Liên doanh dầu khí Việt - Xô (Vietsovpetro) và khôi phục hệ thống giao thông vận tải.
Được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội IV (1976) và Đại hội V (1982), ông tiếp tục được giao trọng trách Thứ trưởng Bộ Quốc phòng từ năm 1982, phụ trách hậu cần, kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng. Tháng 1/1986, ông được phong quân hàm Thượng tướng. Với những đóng góp trong sự nghiệp cách mạng, ông được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
(Nguồn tham khảo: Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long)



