Thượng tướng, Giáo sư, Anh hùng LLVTND Vũ Lăng (1921-1988)
Thượng tướng, Giáo sư, Anh hùng LLVTND Vũ Lăng (1921-1988)
Thượng tướng Vũ Lăng tên thật là Đỗ Đức Liêm, sinh ngày 4 tháng 8 năm 1921 trong một gia đình lao động nghèo tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Đồng chí Vũ Lăng đã sớm giác ngộ cách mạng, tham gia cướp kho thóc Nhật và cướp chính quyền tại Phủ Lý. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đồng chí là một trong những chiến sĩ Nam tiến đầu tiên chiến đấu ở mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa và được cử làm Chỉ đạo viên trung đội chiến đấu, sau đó là Phó ban huấn luyện khu 6, rồi Phó ủy viên quân sự Ninh Hòa. Tháng 12/1946 ra bắc, tham gia quyết tử quân của Trung đoàn Thủ Đô, khu Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia chiến đấu bảo vệ Bắc bộ phủ và được phân công làm ủy viên tác chiến, đồng chí cùng đồng đội và nhân dân Hà Nội chiến đấu 60 ngày đêm trong vòng vây của giặc Pháp tại Hà Nội. Giai đoạn 1947-1953, đồng chí Vũ Lăng được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54, Trung đoàn Thủ đô (Trung đoàn 102), Đại đoàn 308. Đồng chí đã chỉ huy tiểu đoàn tham gia đánh các trận Bồng Lai, Sông Lô, Đại Bục,… và các chiến dịch lớn như: Việt Bắc, Sông Thao, Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào,… Từ năm 1953, đồng chí là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98, Đại đoàn 316, đồng chí đã đã xây dựng Trung đoàn 98 trở thành trung đoàn đánh công kiên (đánh cứ điểm) rất nhanh. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trận chiến ác liệt của Trung đoàn 98 trên đồi C1 đã diễn ra trong suốt 31 ngày đêm giành chiến thắng giòn dã, góp phần quan trọng vào thành công của Chiến dịch.
Anh hùng LLVTND, Thượng tướng, Giáo sư Vũ Lăng. Trong kháng chiến chống Mỹ, trước muôn vàn khó khăn, thử thách, trên các cương vị công tác khác nhau, lúc ở cơ quan tham mưu chiến lược, khi ở các chiến trường, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ quân sự có năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén trong tổ chức chỉ huy và tính quyết đoán. Đồng chí đã giữ nhiều chức vụ quan trọng như Tham mưu trưởng Sư đoàn 316 rồi Cục phó Cục Khoa học Quân sự/BTTM, Phó Tư lệnh Quân khu 4, Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến 2 lần (1966-1968 và 1970 - đầu 1974), Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, Tư lệnh Quân đoàn 3. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí được Bộ Quốc phòng điều động vào làm Phó Tư lệnh Quân khu 4. Đến nơi chiến trường đang diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, đồng chí đã cùng với tập thể Bộ Tư lệnh Quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Không quân và Hải quân của đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, đào tạo được nhiều cán bộ chỉ huy bổ sung cho chiến trường miền Nam. Trong thời gian này đồng chí được phân công trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 325B đánh A Sầu, A Lưới ở Tây Thừa Thiên. Trên cương vị là Cục trưởng Cục Tác chiến (2 lần: 1966 - 1968 và từ 1970 - đầu 1974), đồng chí đã tham gia xây dựng phương án tác chiến cho các chiến dịch quan trọng của quân đội ta tiêu biểu như: Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Chiến dịch Đường 9 Nam Lào; Quảng Trị; Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Trong thời gian 4/1973 đến 3/1974, đồng chí là 1 trong 4 thành viên đầu tiên của Tổ Trung tâm/Bộ Tổng Tham mưu do Đại tướng Lê Trọng Tấn làm Tổ trưởng, nhiệm vụ của Tổ trung tâm là giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh theo dõi toàn bộ tình hình miền Nam và quốc tế, xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976, hoạt động của Tổ Trung tâm là tuyệt mật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng tham mưu trưởng. Đến cuối tháng 5/1973, toàn tổ cơ bản nhất trí những vấn đề cơ bản của kế hoạch giải phóng miền Nam. Ngày 5/6/1973 “Đề cương báo cáo kế hoạch chiến lược lần thứ nhất” được Bộ Chính trị thông qua. Tháng 6/1974, đồng chí được cử vào Tây Nguyên làm Tư lệnh Mặt trận, với cương vị mới đồng chí đã phát huy tính sáng tạo, tầm nhìn chiến lược sâu rộng của mình cùng Đảng ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận lãnh đạo, chỉ đạo Mặt trận tiến hành các công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Nguyên. Phương án tiến công Buôn Ma Thuột được chuẩn bị và cân nhắc vô cùng kỹ lưỡng vì đây là trận mở màn, “đòn điểm huyệt” và là trận then chốt quyết định thành bại của chiến dịch. Đầu năm 1975 sau nhiều lần trinh sát thực địa và nghiên cứu hình thái bố trí lực lượng của địch tại Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh B3 đứng đầu là Tư lệnh Vũ Lăng đã thống nhất cách đánh chiến dịch như sau: tìm mọi cách nhử địch về Kon Tum và Pleiku rồi hãm chúng ở đó, tạo sơ hở Buôn Ma Thuột để ta đột phá thật nhanh vào đây tiêu diệt địch và làm chủ thị xã này trong thời gian ngắn nhất. Sau đó sẽ phát triển đánh chiếm Gia Nghĩa, Phú Bổn để mở rộng khu vực, làm bàn đạp phát triển tiến công các hướng khác. Thực hiện được ý định này, vấn đề có tính quyết định là lập thế trận chiến dịch, thế trận đó phải thể hiện chia cắt, vây hãm, vừa hãm vừa tiến công, đột phá, vừa bí mật, vừa nghi binh.
Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên sau Chiến thắng Buôn Ma Thuột (đồng chí Vũ Lăng thứ 5 từ phải sang). Đồng chí đã cùng với Bộ Tư lệnh và Phòng Tác chiến nghiên cứu chiến thuật đề xuất phương án đánh thị xã Buôn Ma Thuột: một là đánh địch không có phòng ngự dự phòng và phương án thứ hai là đánh địch có phòng ngự dự phòng. Đánh địch không có phòng ngự dự phòng là số một, làm sao phải làm mọi cách để điều địch theo ý của ta. Vấn đề nghi binh, hút địch về Kon Tum và Pleiku là then chốt quyết định. Những vấn đề khó khăn này luôn được Bộ Tư lệnh, đặc biệt là Tư lệnh Vũ Lăng, với trí tuệ và tầm nhìn chiến lược, đã từng bước chỉ đạo thực hiện một cách xuất sắc. Đầu năm 1975, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, đồng chí được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch. Trong buổi báo cáo quyết tâm với Bộ Tư lệnh Tiền phương, sau khi nghe đồng chí (mặc dù đang trong cơn sốt rét) lên thuyết phục về việc bố trí các sư đoàn, phương án và kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Nguyên đã được Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp phê chuẩn. Thời gian điều động, bố trí chuẩn bị kế hoạch nghi binh lừa địch trong suốt 3 tháng của Bộ Tư lệnh Chiến dịch là cuộc đọ sức âm thầm, đầy kịch tính với bộ tham mưu của quân đội ngụy Sài Gòn, trong cuộc đọ sức này ta đã nắm được 1 điểm thắng rất quan trọng là chủ lực của quân đội ngụy Sài Gòn vẫn bị giam chân ở Bắc Tây Nguyên cho đến ngày ta nổ súng, đây là điểm mang tính quyết định cho chiến thắng giòn giã tại Buôn Ma Thuột. Chỉ trong vài ngày mà bản đồ quân sự miền Nam bị đảo lộn, Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi vang dội mà đặc biệt xuất sắc là “đòn điểm huyệt” quyết định Buôn Ma Thuột đã khiến toàn bộ địch ở Tây Nguyên bị tiêu diệt và rút chạy làm cho từng mảng cấu trúc của chế độ ngụy quyền Sài Gòn sụp đổ nhanh chóng. Trong chiến dịch này đồng chí đã trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 10 đánh chiếm Đức Lập trong thời gian ngắn, hoàn thành tốt phương án tác chiến và ý đồ tiến công của Bộ Tư lệnh và sau đó là chỉ huy Sư đoàn 10 đánh Lữ dù 3 quân đội ngụy tại đèo Phượng Hoàng mở đường cho quân ta tiến xuống đồng bằng, làm cho toàn bộ quân địch án ngữ suốt từ Lam Sơn, Dục Mỹ, Ninh Hoà tới Nha Trang hoảng loạn, không còn sức chiến đấu, chỉ lo tìm đường tháo chạy, tạo thuận lợi cho các lực lượng của quân ta nhanh chóng tiến xuống đồng bằng ven biển miền Trung, giải phóng một địa bàn rộng lớn. Chia cắt quân địch giữa Quân khu 1 với Quân khu 3, chặn đứng việc rút lui bằng đường bộ của toàn bộ lực lượng địch tại Quân khu 1. Chiến thắng Buôn Ma Thuột và giải phóng Tây Nguyên đã tạo ra bước đột phá quan trọng trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Ngày 26/3/1975, Quân đoàn 3 được thành lập, đồng chí được cử làm Tư lệnh đầu tiên của Quân đoàn. Ngay sau khi thành lập, dưới sự chỉ huy Bộ Tư lệnh đứng đầu là đồng chí Vũ Lăng, Quân đoàn 3 đã thực hiện đúng chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, với tinh thần “thần tốc” Quân đoàn nhanh chóng xốc tới giải phóng thành phố Nha Trang, thị xã Tuy Hòa và tiến xuống miền Đông Nam bộ, vừa đánh địch vừa mở đường đến tập kết tại khu vực Dầu Tiếng sớm 1 ngày so với kế hoạch, chiếm lĩnh bàn đạp tấn công Sài Gòn - Gia Định, đây được xem là một kỳ tích.
Đồng chí Vũ Lăng - Tư lệnh Quân đoàn trao cờ thưởng cho các đơn vị tại Hội nghị Tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 3 được giao nhiệm vụ đảm nhiệm hướng Tây Bắc Sài Gòn, đây là hướng tấn công chủ yếu nhất của chiến dịch và là tuyến phòng ngự mạnh nhất của quân ngụy Sài Gòn với chiều dài hơn 40 km. Quân đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, đập tan tuyến phòng ngự Tây Bắc Sài gòn - Gia Định, lần lượt đánh chiếm và làm chủ các mục tiêu tại: Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng, Đồng Dù, Hóc Môn, Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Là cánh quân đầu tiên trong 5 cánh quân đặt chân đến cửa ngõ Sài Gòn vào chiều 29/4/1975, tiếp đến sáng ngày 30/4/1975 Quân đoàn 3 đã đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân đội ngụy Sài Gòn, vào lúc 11h30 ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã giương cao lá cờ giải phóng trên nóc tòa nhà Bộ Tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn. Tháng 3/1977, đồng chí được giao trọng trách Giám đốc/Viện trưởng Học viện Lục quân kiêm Bí thư Đảng ủy (1977-1988), kiêm phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự/BQP (1987). Với kinh nghiệm về xây dựng quân đội đã tích lũy được trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu, đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển khoa học quân sự. Đồng chí đã chỉ đạo biên soạn hệ thống tài liệu, đáp ứng kịp thời đầy đủ cho công tác huấn luyện các chuyên ngành binh chủng lục quân; góp phần rất quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy ở Học viện và cả các nhà trường Quân đội sau này. Đồng chí là người đầu tiên đề xuất vấn đề bồi dưỡng, đào tạo nghiên cứu sinh khoa học quân sự, vào năm 1985 tại Học viện Lục quân, lần đầu tiên trong quân đội đã tiến hành tổ chức bảo vệ luận án Phó tiến sĩ Khoa học Quân sự cấp Quốc gia cho 8 chuyên ngành binh chủng lục quân. Đồng chí là 1 trong 6 tướng lĩnh đầu tiên của quân đội được phong hàm Giáo sư Khoa học Quân sự (tháng 9/1986).
Anh hùng LLVTND, Thượng tướng, Giáo sư Vũ Lăng. Trong kháng chiến chống Mỹ, trước muôn vàn khó khăn, thử thách, trên các cương vị công tác khác nhau, lúc ở cơ quan tham mưu chiến lược, khi ở các chiến trường, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ quân sự có năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén trong tổ chức chỉ huy và tính quyết đoán. Đồng chí đã giữ nhiều chức vụ quan trọng như Tham mưu trưởng Sư đoàn 316 rồi Cục phó Cục Khoa học Quân sự/BTTM, Phó Tư lệnh Quân khu 4, Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến 2 lần (1966-1968 và 1970 - đầu 1974), Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, Tư lệnh Quân đoàn 3. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí được Bộ Quốc phòng điều động vào làm Phó Tư lệnh Quân khu 4. Đến nơi chiến trường đang diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, đồng chí đã cùng với tập thể Bộ Tư lệnh Quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Không quân và Hải quân của đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, đào tạo được nhiều cán bộ chỉ huy bổ sung cho chiến trường miền Nam. Trong thời gian này đồng chí được phân công trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 325B đánh A Sầu, A Lưới ở Tây Thừa Thiên. Trên cương vị là Cục trưởng Cục Tác chiến (2 lần: 1966 - 1968 và từ 1970 - đầu 1974), đồng chí đã tham gia xây dựng phương án tác chiến cho các chiến dịch quan trọng của quân đội ta tiêu biểu như: Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Chiến dịch Đường 9 Nam Lào; Quảng Trị; Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Trong thời gian 4/1973 đến 3/1974, đồng chí là 1 trong 4 thành viên đầu tiên của Tổ Trung tâm/Bộ Tổng Tham mưu do Đại tướng Lê Trọng Tấn làm Tổ trưởng, nhiệm vụ của Tổ trung tâm là giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh theo dõi toàn bộ tình hình miền Nam và quốc tế, xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976, hoạt động của Tổ Trung tâm là tuyệt mật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng tham mưu trưởng. Đến cuối tháng 5/1973, toàn tổ cơ bản nhất trí những vấn đề cơ bản của kế hoạch giải phóng miền Nam. Ngày 5/6/1973 “Đề cương báo cáo kế hoạch chiến lược lần thứ nhất” được Bộ Chính trị thông qua. Tháng 6/1974, đồng chí được cử vào Tây Nguyên làm Tư lệnh Mặt trận, với cương vị mới đồng chí đã phát huy tính sáng tạo, tầm nhìn chiến lược sâu rộng của mình cùng Đảng ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận lãnh đạo, chỉ đạo Mặt trận tiến hành các công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Nguyên. Phương án tiến công Buôn Ma Thuột được chuẩn bị và cân nhắc vô cùng kỹ lưỡng vì đây là trận mở màn, “đòn điểm huyệt” và là trận then chốt quyết định thành bại của chiến dịch. Đầu năm 1975 sau nhiều lần trinh sát thực địa và nghiên cứu hình thái bố trí lực lượng của địch tại Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh B3 đứng đầu là Tư lệnh Vũ Lăng đã thống nhất cách đánh chiến dịch như sau: tìm mọi cách nhử địch về Kon Tum và Pleiku rồi hãm chúng ở đó, tạo sơ hở Buôn Ma Thuột để ta đột phá thật nhanh vào đây tiêu diệt địch và làm chủ thị xã này trong thời gian ngắn nhất. Sau đó sẽ phát triển đánh chiếm Gia Nghĩa, Phú Bổn để mở rộng khu vực, làm bàn đạp phát triển tiến công các hướng khác. Thực hiện được ý định này, vấn đề có tính quyết định là lập thế trận chiến dịch, thế trận đó phải thể hiện chia cắt, vây hãm, vừa hãm vừa tiến công, đột phá, vừa bí mật, vừa nghi binh.
Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên sau Chiến thắng Buôn Ma Thuột (đồng chí Vũ Lăng thứ 5 từ phải sang). Đồng chí đã cùng với Bộ Tư lệnh và Phòng Tác chiến nghiên cứu chiến thuật đề xuất phương án đánh thị xã Buôn Ma Thuột: một là đánh địch không có phòng ngự dự phòng và phương án thứ hai là đánh địch có phòng ngự dự phòng. Đánh địch không có phòng ngự dự phòng là số một, làm sao phải làm mọi cách để điều địch theo ý của ta. Vấn đề nghi binh, hút địch về Kon Tum và Pleiku là then chốt quyết định. Những vấn đề khó khăn này luôn được Bộ Tư lệnh, đặc biệt là Tư lệnh Vũ Lăng, với trí tuệ và tầm nhìn chiến lược, đã từng bước chỉ đạo thực hiện một cách xuất sắc. Đầu năm 1975, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, đồng chí được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch. Trong buổi báo cáo quyết tâm với Bộ Tư lệnh Tiền phương, sau khi nghe đồng chí (mặc dù đang trong cơn sốt rét) lên thuyết phục về việc bố trí các sư đoàn, phương án và kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Nguyên đã được Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp phê chuẩn. Thời gian điều động, bố trí chuẩn bị kế hoạch nghi binh lừa địch trong suốt 3 tháng của Bộ Tư lệnh Chiến dịch là cuộc đọ sức âm thầm, đầy kịch tính với bộ tham mưu của quân đội ngụy Sài Gòn, trong cuộc đọ sức này ta đã nắm được 1 điểm thắng rất quan trọng là chủ lực của quân đội ngụy Sài Gòn vẫn bị giam chân ở Bắc Tây Nguyên cho đến ngày ta nổ súng, đây là điểm mang tính quyết định cho chiến thắng giòn giã tại Buôn Ma Thuột. Chỉ trong vài ngày mà bản đồ quân sự miền Nam bị đảo lộn, Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi vang dội mà đặc biệt xuất sắc là “đòn điểm huyệt” quyết định Buôn Ma Thuột đã khiến toàn bộ địch ở Tây Nguyên bị tiêu diệt và rút chạy làm cho từng mảng cấu trúc của chế độ ngụy quyền Sài Gòn sụp đổ nhanh chóng. Trong chiến dịch này đồng chí đã trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 10 đánh chiếm Đức Lập trong thời gian ngắn, hoàn thành tốt phương án tác chiến và ý đồ tiến công của Bộ Tư lệnh và sau đó là chỉ huy Sư đoàn 10 đánh Lữ dù 3 quân đội ngụy tại đèo Phượng Hoàng mở đường cho quân ta tiến xuống đồng bằng, làm cho toàn bộ quân địch án ngữ suốt từ Lam Sơn, Dục Mỹ, Ninh Hoà tới Nha Trang hoảng loạn, không còn sức chiến đấu, chỉ lo tìm đường tháo chạy, tạo thuận lợi cho các lực lượng của quân ta nhanh chóng tiến xuống đồng bằng ven biển miền Trung, giải phóng một địa bàn rộng lớn. Chia cắt quân địch giữa Quân khu 1 với Quân khu 3, chặn đứng việc rút lui bằng đường bộ của toàn bộ lực lượng địch tại Quân khu 1. Chiến thắng Buôn Ma Thuột và giải phóng Tây Nguyên đã tạo ra bước đột phá quan trọng trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Ngày 26/3/1975, Quân đoàn 3 được thành lập, đồng chí được cử làm Tư lệnh đầu tiên của Quân đoàn. Ngay sau khi thành lập, dưới sự chỉ huy Bộ Tư lệnh đứng đầu là đồng chí Vũ Lăng, Quân đoàn 3 đã thực hiện đúng chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, với tinh thần “thần tốc” Quân đoàn nhanh chóng xốc tới giải phóng thành phố Nha Trang, thị xã Tuy Hòa và tiến xuống miền Đông Nam bộ, vừa đánh địch vừa mở đường đến tập kết tại khu vực Dầu Tiếng sớm 1 ngày so với kế hoạch, chiếm lĩnh bàn đạp tấn công Sài Gòn - Gia Định, đây được xem là một kỳ tích.
Đồng chí Vũ Lăng - Tư lệnh Quân đoàn trao cờ thưởng cho các đơn vị tại Hội nghị Tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 3 được giao nhiệm vụ đảm nhiệm hướng Tây Bắc Sài Gòn, đây là hướng tấn công chủ yếu nhất của chiến dịch và là tuyến phòng ngự mạnh nhất của quân ngụy Sài Gòn với chiều dài hơn 40 km. Quân đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, đập tan tuyến phòng ngự Tây Bắc Sài gòn - Gia Định, lần lượt đánh chiếm và làm chủ các mục tiêu tại: Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng, Đồng Dù, Hóc Môn, Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Là cánh quân đầu tiên trong 5 cánh quân đặt chân đến cửa ngõ Sài Gòn vào chiều 29/4/1975, tiếp đến sáng ngày 30/4/1975 Quân đoàn 3 đã đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân đội ngụy Sài Gòn, vào lúc 11h30 ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã giương cao lá cờ giải phóng trên nóc tòa nhà Bộ Tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn. Tháng 3/1977, đồng chí được giao trọng trách Giám đốc/Viện trưởng Học viện Lục quân kiêm Bí thư Đảng ủy (1977-1988), kiêm phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự/BQP (1987). Với kinh nghiệm về xây dựng quân đội đã tích lũy được trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu, đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển khoa học quân sự. Đồng chí đã chỉ đạo biên soạn hệ thống tài liệu, đáp ứng kịp thời đầy đủ cho công tác huấn luyện các chuyên ngành binh chủng lục quân; góp phần rất quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy ở Học viện và cả các nhà trường Quân đội sau này. Đồng chí là người đầu tiên đề xuất vấn đề bồi dưỡng, đào tạo nghiên cứu sinh khoa học quân sự, vào năm 1985 tại Học viện Lục quân, lần đầu tiên trong quân đội đã tiến hành tổ chức bảo vệ luận án Phó tiến sĩ Khoa học Quân sự cấp Quốc gia cho 8 chuyên ngành binh chủng lục quân. Đồng chí là 1 trong 6 tướng lĩnh đầu tiên của quân đội được phong hàm Giáo sư Khoa học Quân sự (tháng 9/1986).


