Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An ông được biết đến là một giáo sư, nhà giáo nhân dân, một nhà lý luận quân sự hàng đầu của quân đội nhân dân Việt Nam
Tuổi thơ của ông là những ngày gắn bó với miền đất rừng núi Lạng Sơn mãi cho đến khi hoàn thành lớp nhất tương đương với cấp bậc tiểu học ngày nay, ông được cha của mình gửi xuống Hà Nội để học tiếp bậc trung học tại trường tư thục Thăng Long chỉ những dịp nghỉ hè ông về Lạng Sơn chơi. Trong những dịp về nghỉ hè này, ông sớm được giác ngộ cách mạng qua các buổi tuyên truyền của Đảng.
Năm 1937, ông được xếp vào danh sách danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng do Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức.
Đến năm 1941, ông tham gia vào tổ chức cách mạng Việt Minh sau đó, ông được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc và là thành viên tham gia vào công cuộc xây dựng cơ sở chính trị và lực lượng du kích ở vùng biên giới Lạng Sơn.
Tháng 1 năm 1945, ông trở về nước và tham gia vào Ban phụ trách công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh, Ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn. Ngày 3 tháng 3 năm 1945, ông chính thức gia nhập vào Đảng cộng sản Đông Dương và tham gia vào chính quyền ở Lạng Sơn.
Từ sau cách mạng tháng 8, ông là phái viên của Bộ Quốc phòng ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng, Khu trưởng Chiến khu III, Phó tư lệnh Liên khu III.
Năm 1948, ông là một trong những người được phong hàm Đại tá Quân đội Quốc gia Việt Nam trong đợt phong hàm đầu tiên. Sau đó, ông là Tư lệnh Liên khu 4 từ năm 1949 đến năm 1950. Sau chiến dịch biên giới 1950, ông làm Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại Đoàn 304.
Từ năm 1955, ông làm cán bộ đào tạo cán bộ quân sự, xây dựng Học viện quân sự nay là Học viện Lục quân Đà Lạt tại đây, ông liên tục đảm nhận chức vụ Hiệu trưởng Học viện Quân sự liên tục từ 1954 đến 1966. Trong thời gian đương chức ông cũng từng theo học tại Học viện Quốc phòng Bắc Kinh và học bổ túc quân sự ở Liên Xô.
Đến tháng 11 năm 1966, ông được phân vào Nam giữ chức Phó tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên; ông là người đưa ra những nguyên tắc quan trọng về hỏa lực và cơ động giúp đội quân giải phóng miền Nam giành lợi thế khi chiến đấu.
Đến năm 1969, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên sau đó là Phó tư lệnh Quân khu V vào tháng 8 năm 1974 và là Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên vào tháng 3 năm 1975.
Từ năm 1976, ông đảm nhiệm chức Viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt, năm 1977 ông làm Viện trưởng Học viện quân sự cấp cao nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam.
Đến năm 1987, ông đảm nhận thêm chức vụ Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ quốc phòng. Từ năm 1990, ông là Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến khi nghỉ hưu (1995).
Vào ngày 8 tháng 9 năm 2008, ông qua đời hưởng thọ 88 tuổi. Cuộc sống gia đìnhCha mẹ của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là ông Tạ Quang Khai và bà Nguyễn Thị Tành. Cha ông vốn là một thợ may và là người có lòng yêu nước sâu sắc do cha của ông từng tham gia phong trào yêu nước nên đã bị thực dân Pháp lùng bắt trong một thời gian dài ông cùng với gia đình của mình chuyển lên sinh sống tại vùng Tràng Định - Thất Khê (Lạng Sơn)Các mối quan hệ thân thiếtBạn gái/ vợ/ người yêu Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là ai?
Thông tin này hiện đang được cập nhật!Chiều cao cân nặng Thượng tướng Hoàng Minh ThảoThượng tướng Hoàng Minh Thảo cao bao nhiêu, nặng bao nhiêu?
Chiều cao: đang cập nhật
Cân nặng: đang cập nhật
Số đo 3 vòng: đang cập nhậtTóm tắt lý lịch Hoàng Minh ThảoThượng tướng Hoàng Minh Thảo sinh năm bao nhiêu, bao nhiêu tuổi?
Hoàng Minh Thảo sinh ngày 25-10-1921, mất ngày 08/09/2008, hưởng thọ 87 tuổi.
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sinh ở đâu, con giáp/ cung hoàng đạo gì?
Hoàng Minh Thảo sinh ra tại Tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam. Ông sống và làm việc chủ yếu ở Thành phố Hà Nội, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Thần Nông, cầm tinh con (giáp) gà (Tân Dậu 1921). Hoàng Minh Thảo xếp hạng nổi tiếng thứ 92903 trên thế giới và thứ 3 trong danh sách Thượng tướng nổi tiếng. Tổng dân số của Việt Nam năm 1921 vào khoảng 15,58 triệu người.
Tuổi thơ của ông là những ngày gắn bó với miền đất rừng núi Lạng Sơn mãi cho đến khi hoàn thành lớp nhất tương đương với cấp bậc tiểu học ngày nay, ông được cha của mình gửi xuống Hà Nội để học tiếp bậc trung học tại trường tư thục Thăng Long chỉ những dịp nghỉ hè ông về Lạng Sơn chơi. Trong những dịp về nghỉ hè này, ông sớm được giác ngộ cách mạng qua các buổi tuyên truyền của Đảng.
Năm 1937, ông được xếp vào danh sách danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng do Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức.
Đến năm 1941, ông tham gia vào tổ chức cách mạng Việt Minh sau đó, ông được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc và là thành viên tham gia vào công cuộc xây dựng cơ sở chính trị và lực lượng du kích ở vùng biên giới Lạng Sơn.
Tháng 1 năm 1945, ông trở về nước và tham gia vào Ban phụ trách công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh, Ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn. Ngày 3 tháng 3 năm 1945, ông chính thức gia nhập vào Đảng cộng sản Đông Dương và tham gia vào chính quyền ở Lạng Sơn.
Từ sau cách mạng tháng 8, ông là phái viên của Bộ Quốc phòng ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng, Khu trưởng Chiến khu III, Phó tư lệnh Liên khu III.
Năm 1948, ông là một trong những người được phong hàm Đại tá Quân đội Quốc gia Việt Nam trong đợt phong hàm đầu tiên. Sau đó, ông là Tư lệnh Liên khu 4 từ năm 1949 đến năm 1950. Sau chiến dịch biên giới 1950, ông làm Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại Đoàn 304.
Từ năm 1955, ông làm cán bộ đào tạo cán bộ quân sự, xây dựng Học viện quân sự nay là Học viện Lục quân Đà Lạt tại đây, ông liên tục đảm nhận chức vụ Hiệu trưởng Học viện Quân sự liên tục từ 1954 đến 1966. Trong thời gian đương chức ông cũng từng theo học tại Học viện Quốc phòng Bắc Kinh và học bổ túc quân sự ở Liên Xô.
Đến tháng 11 năm 1966, ông được phân vào Nam giữ chức Phó tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên; ông là người đưa ra những nguyên tắc quan trọng về hỏa lực và cơ động giúp đội quân giải phóng miền Nam giành lợi thế khi chiến đấu.
Đến năm 1969, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên sau đó là Phó tư lệnh Quân khu V vào tháng 8 năm 1974 và là Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên vào tháng 3 năm 1975.
Từ năm 1976, ông đảm nhiệm chức Viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt, năm 1977 ông làm Viện trưởng Học viện quân sự cấp cao nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam.
Đến năm 1987, ông đảm nhận thêm chức vụ Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ quốc phòng. Từ năm 1990, ông là Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến khi nghỉ hưu (1995).
Vào ngày 8 tháng 9 năm 2008, ông qua đời hưởng thọ 88 tuổi. Cuộc sống gia đìnhCha mẹ của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là ông Tạ Quang Khai và bà Nguyễn Thị Tành. Cha ông vốn là một thợ may và là người có lòng yêu nước sâu sắc do cha của ông từng tham gia phong trào yêu nước nên đã bị thực dân Pháp lùng bắt trong một thời gian dài ông cùng với gia đình của mình chuyển lên sinh sống tại vùng Tràng Định - Thất Khê (Lạng Sơn)Các mối quan hệ thân thiếtBạn gái/ vợ/ người yêu Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là ai?
Thông tin này hiện đang được cập nhật!Chiều cao cân nặng Thượng tướng Hoàng Minh ThảoThượng tướng Hoàng Minh Thảo cao bao nhiêu, nặng bao nhiêu?
Chiều cao: đang cập nhật
Cân nặng: đang cập nhật
Số đo 3 vòng: đang cập nhậtTóm tắt lý lịch Hoàng Minh ThảoThượng tướng Hoàng Minh Thảo sinh năm bao nhiêu, bao nhiêu tuổi?
Hoàng Minh Thảo sinh ngày 25-10-1921, mất ngày 08/09/2008, hưởng thọ 87 tuổi.
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sinh ở đâu, con giáp/ cung hoàng đạo gì?
Hoàng Minh Thảo sinh ra tại Tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam. Ông sống và làm việc chủ yếu ở Thành phố Hà Nội, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Thần Nông, cầm tinh con (giáp) gà (Tân Dậu 1921). Hoàng Minh Thảo xếp hạng nổi tiếng thứ 92903 trên thế giới và thứ 3 trong danh sách Thượng tướng nổi tiếng. Tổng dân số của Việt Nam năm 1921 vào khoảng 15,58 triệu người.



