THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO
THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (tên khai sinh là TạThái An), sinh ngày 25-10-1921. Cha ông là Tạ Quang Khai, mẹ là Nguyễn Thị Tành làm nghề thợ may tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (nay xã Bảo Khê thuộc TP Hưng Yên, tỉnhHưng Yên). Cha ông do tham gia phong trào yêu nước nên bịthực dân Pháp lùng bắt, vì vậy gia đình ông đã rời bỏ quêhương lên sinh sống tại huyện Tràng Định (Lạng Sơn).
Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tìnhĐảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niêndân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lấy bí danhhoạt động là Tạ Quang. Năm 1941, Tạ Quang tham gia ViệtMinh, rồi được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Khi ấy, Tạ Quang đã vinh dự được Bác Hồ đặt cho tên mới làHoàng Minh Thảo - cái tên như một tiên đoán về cuộc đời vàsứ mệnh của vị tướng tài ba xuất chúng trong quân đội này. Theo đó, họ Hoàng là lấy tên của trường Hoàng Phố, đệm vàtên là Minh Thảo, dành cho con người thông minh, có tấmlòng tình nghĩa, thảo thơm.
Tháng 10-1945, khi mới 24 tuổi, Hoàng Minh Thảo đãđược giao làm Khu trưởng Chiến khu 3, thay tướng NguyễnBình vào Nam làm Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1948, Hoàng Minh Thảo là đại tá trẻ nhất toàn quân được phong cấp hàm khi mới27 tuổi. Từ Tư lệnh Chiến khu 3, Hoàng Minh Thảo được cửvào Chiến khu 4 thay tướng Nguyễn Sơn. Năm 1950, Đại táHoàng Minh Thảo được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304 - đơn vị bộ đội chủ lực chiến đấu vừa được thành lập. Cuộcđời binh nghiệp của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là mộtbản anh hùng ca gắn liền với những chiến công vang dội. Năm1975, ông là Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đã giáng đòn điểmhuyệt vào quân lực Việt Nam cộng hòa, mở đầu cho cuộcTổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975, tiếp nối là Chiếndịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thốngnhất đất nước (30-4-1975).
Bậc thầy nghệ thuật dụng binh
Trong một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúcđó là Trung tướng) ra Hà Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “ĐánhTây Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thểphát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên; đánhxuống đồng bằng ven biển; đánh vào miền Đông Nam Bộ, cắtchiến trường miền Nam ra làm đôi”.
Ý kiến của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được Đại tướngVõ Nguyên Giáp hết sức ủng hộ. Chiến dịch Tây Nguyên mởđầu bằng một loạt hoạt động cài thế bao vây, chia cắt, cô lậpBuôn Ma Thuột. Quân giải phóng tăng cường hoạt động nghibinh thu hút sự chú ý của quân lực Việt Nam cộng hòa về phíabắc (Kon Tum), đánh trận “giả” ở Pleiku, phía Việt Nam cộnghòa mắc mưu, đưa Trung đoàn 45, đơn vị mạnh của Sư đoàn23 bộ binh từ Buôn Ma Thuột lên Pleiku, để sơ hở hướngNam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột. Màn nghi binh kinhđiển ở Pleiku chính là yếu tố then chốt giúp Quân giải phónggiành thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, làm bàn đạp để giải phónghoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thượng tướngHoàng Minh Thảo sau này nhận định: “Ta ghìm địch ở BắcTây Nguyên để phá vỡ địch ở đầu yếu là Nam Tây Nguyên. Đó là một thành công trong nghệ thuật dùng mưu”.
Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã để lại nhiều dấu ấnvề nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh lừađịch. Đây là một kinh nghiệm lịch sử vô cùng quý giá cầnđược tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong thời kỳxây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong Chiến dịch TâyNguyên, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là linh hồn với tàinghệ thuật dụng binh. Nguyên lý của ông là: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”.
Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Hoàng Minh Thảo làvị tướng trẻ, được “cắm chốt nằm vùng” suốt 10 năm ở núirừng Tây Nguyên. Ông là một vị tướng chiến lược văn võsong toàn. Ông hiểu rõ kẻ địch, có nhiều mưu cao, kế sâu, chủđộng dùng chiến thuật nghi binh lừa địch khiến chúng kinhhồn bạt vía, hoang mang hoảng loạn, vội vàng tháo chạy khỏiTây Nguyên. Mỗi khi nhắc đến chiến thắng Điện Biên Phủngười ta thường nhắc đến tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Còn chiến thắng Tây Nguyên vang dội không thể không nhắcđến danh tướng Hoàng Minh Thảo - một nhà cầm quân tàinăng, nhà khoa học quân sự đầu ngành của quân đội ta. Tàinăng và đức độ của ông được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam.
Cố Trung tướng Phạm Hồng Cư (nguyên Phó chủ nhiệm Tổngcục Chính trị QĐND Việt Nam) từng nêu rõ: Thượng tướngHoàng Minh Thảo là người ba công lớn. Thứ nhất, ông là mộtvị tướng giỏi về trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, đượcĐại tướng Võ Nguyên Giáp rất tin tưởng và quý trọng. Thờikỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông Thảo đã thay ôngNguyễn Bình làm Tư lệnh Chiến khu Ba, giải phóng đượcMóng Cái, Hà Khẩu, tổ chức chống Pháp ở Hải Phòng. Ông tổchức huấn luyện du kích rất giỏi, sau ông được điều động vềlàm Tư lệnh Quân khu 4. Thứ hai, ông làm Tư lệnh mặt trậnTây Nguyên, là linh hồn trong Chiến dịch Tây Nguyên. Thứba, ông là một trong những người đặt nền móng cho Học việnQuân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng)...



