Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (1928-18/4/2006), tên thật là Nguyễn Ngọc Thiện, quê tại xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội).Đồng chí bắt đầu tham gia cách mạng từ năm 1944 với nhiệm vụ in và phát hành báo Độc Lập tại quê nhà. Sau đó, tháng 3/1945, ông tham gia Hội thanh niên cứu quốc trên cương vị Bí thư thanh niên cứu quốc Thị xã Sơn Tây. Tháng 5/1945, ông được cử đi học lớp Quân chính kháng Nhật, là đội viên của đội công tác xây dựng cơ sở giao thông từ chiến khu Việt Bắc về Hòa Bình. Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa ở khu vực thị xã Sơn Tây.
Từ tháng 8/1945 đến tháng 4/1947, ông tham gia bộ đội địa phương thuộc các tỉnh Sơn Tây, Ninh Bình, Nam Ðịnh. Từ tháng 5/1947 đến tháng 2/1955, ông lần lượt giữ các cương vị Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 48, Trung đoàn 64 và Trung đoàn 66 thuộc Ðại đoàn 320, tháng 11/1953 là Tham mưu trưởng Ðại đoàn 320 cho đến đến tháng 2-1955.
Từ tháng 3/1955 đến năm 1956, ông là Phó cục trưởng Cục Quân huấn. Từ năm 1957-1959, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc. Năm 1960, về nước, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn. Năm 1961, ông học tại Học viện Quân sự Phunde Liên Xô. Sau khi ở Liên Xô về, từ năm 1962 đến năm 1964, ông được cử giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Từ năm 1964-1969, ông là Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1967,ông được cử là phái viên của Bộ Tổng Tham mưu tham gia chỉ huy tác chiến ở Khu Đông chiến dịch Đường 9 Khe Sanh trên cương vị Phó Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên (B5). Từ tháng 8/1970 đến đầu năm 1974, ông làm Phái viên của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đi truyền đạt nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Trung ương Đảng cho Trung ương cục Miền. Sau đó ở lại chiến trường miền Nam, được cử giữ chức Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.
Tháng 4/1974, ông được Trung ương lệnh ra Bắc gấp. Cũng trong năm này ông được phong quân hàm Thiếu tướng, được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này ông giao nhiệm vụ chủ trì Soạn thảo Kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 và 1976 đệ trình Bộ chính trị và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Bản Kế hoạch giải phóng miền Nam do ông chủ trì được Bộ chính trì đánh giá. Ngày 16/1/1975, ông vào chiến trường Tây Nguyên tham gia lập Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng Tham mưu nhằm chuẩn bị chiến trường cho trận đánh có tính chất quyết định-cú đấm chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường, triển khai kế hoạch giải phóng miền Nam. Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, ông vào chiến trường miền Đông Nam Bộ và được cử làm Tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh.
Từ năm 1977-1986, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng thường trực tại Sở chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu ở phía Nam. Năm 1980, ông được phong quân hàm Trung tướng. Cuối năm 1986, ông được chỉ định làm Tư lệnh Mặt trận 719 (Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm Pu Chia) và được phong quân hàm Thượng tướng. Từ tháng 8 năm 1988 đến ngày 30/10/1995, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam phụ trách tổng kết chiến tranh. Năm 1996, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Ngoài ra Thượng tướng Lê Ngọc Hiền là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4, Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5 và 6).
Với những thành tích trong quá trình công tác, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của Nhà nước Cam-pu-chia, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba),
Từ tháng 8/1945 đến tháng 4/1947, ông tham gia bộ đội địa phương thuộc các tỉnh Sơn Tây, Ninh Bình, Nam Ðịnh. Từ tháng 5/1947 đến tháng 2/1955, ông lần lượt giữ các cương vị Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 48, Trung đoàn 64 và Trung đoàn 66 thuộc Ðại đoàn 320, tháng 11/1953 là Tham mưu trưởng Ðại đoàn 320 cho đến đến tháng 2-1955.
Từ tháng 3/1955 đến năm 1956, ông là Phó cục trưởng Cục Quân huấn. Từ năm 1957-1959, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc. Năm 1960, về nước, ông là Cục trưởng Cục Quân huấn. Năm 1961, ông học tại Học viện Quân sự Phunde Liên Xô. Sau khi ở Liên Xô về, từ năm 1962 đến năm 1964, ông được cử giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Từ năm 1964-1969, ông là Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1967,ông được cử là phái viên của Bộ Tổng Tham mưu tham gia chỉ huy tác chiến ở Khu Đông chiến dịch Đường 9 Khe Sanh trên cương vị Phó Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên (B5). Từ tháng 8/1970 đến đầu năm 1974, ông làm Phái viên của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đi truyền đạt nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Trung ương Đảng cho Trung ương cục Miền. Sau đó ở lại chiến trường miền Nam, được cử giữ chức Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.
Tháng 4/1974, ông được Trung ương lệnh ra Bắc gấp. Cũng trong năm này ông được phong quân hàm Thiếu tướng, được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này ông giao nhiệm vụ chủ trì Soạn thảo Kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 và 1976 đệ trình Bộ chính trị và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Bản Kế hoạch giải phóng miền Nam do ông chủ trì được Bộ chính trì đánh giá. Ngày 16/1/1975, ông vào chiến trường Tây Nguyên tham gia lập Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng Tham mưu nhằm chuẩn bị chiến trường cho trận đánh có tính chất quyết định-cú đấm chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường, triển khai kế hoạch giải phóng miền Nam. Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, ông vào chiến trường miền Đông Nam Bộ và được cử làm Tham mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh.
Từ năm 1977-1986, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng thường trực tại Sở chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu ở phía Nam. Năm 1980, ông được phong quân hàm Trung tướng. Cuối năm 1986, ông được chỉ định làm Tư lệnh Mặt trận 719 (Quân tình nguyện Việt Nam tại Căm Pu Chia) và được phong quân hàm Thượng tướng. Từ tháng 8 năm 1988 đến ngày 30/10/1995, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam phụ trách tổng kết chiến tranh. Năm 1996, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Ngoài ra Thượng tướng Lê Ngọc Hiền là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4, Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5 và 6).
Với những thành tích trong quá trình công tác, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của Nhà nước Cam-pu-chia, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba),



