Bài viết

Thượng tướng người dân tộc Tày từng là cận vệ của Bác Hồ, Tư lệnh đầu tiên của Quân khu 1, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc

Thượng tướng Đàm Quang Trung - tên thật Đàm Ngọc Lưu, là một trong những cán bộ quân sự trưởng thành từ buổi đầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.

Cao Bằng29/09/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Ủy ban nhân dân tỉnh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Thượng tướng người dân tộc Tày từng là cận vệ của Bác Hồ, Tư lệnh đầu tiên của Quân khu 1, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc

Người con dân tộc Tày vinh dự được Bác Hồ đặt tên

Thượng tướng Đàm Quang Trung sinh ngày 12/9/1921, tên thật là Đàm Ngọc Lưu, người dân tộc Tày, quê ở làng Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng (cũ), tỉnh Cao Bằng. Ông lớn lên trên vùng đất có phong trào cách mạng phát triển từ khá sớm. Hai người anh của ông là Đàm Văn Lý, tức Quý Quân, và Đàm Minh Viễn, tức Đức Thanh, cũng tham gia hoạt động cách mạng.

Năm 1937, khi mới 16 tuổi, Đàm Ngọc Lưu bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương. Tháng 2/1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 5/1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam rồi quản thúc.

Tháng 3/1941, ông được tổ chức giúp đỡ thoát khỏi sự quản thúc, sang Tĩnh Tây (Trung Quốc) làm công tác liên lạc cho cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại đây, ông có dịp gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được Người đặt tên mới là Đàm Quang Trung, đồng thời cử theo học Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) cùng các đồng chí Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Hoàng Minh Thảo, Vũ Lập...

Trong hồi ức của mình, ông từng kể ban đầu được giao học kỹ thuật in litô nhưng đã xin được chuyển sang học quân sự. Sau khi đề nghị được chấp thuận, ông tập trung học cách sử dụng nhiều loại vũ khí, qua đó tích lũy những kiến thức quân sự cần thiết trước khi trở về hoạt động trong nước.

Tháng 7/1944, ông trở về Cao Bằng, tham gia huấn luyện quân sự cho các đội du kích ở vùng biên giới. Với năng lực và uy tín của mình, ông được tín nhiệm giao làm Đội trưởng Đội bảo vệ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tân Trào.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, với 34 chiến sĩ. Đàm Quang Trung là một trong những thành viên đầu tiên của đơn vị vũ trang chủ lực này. Từ đây, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội trưởng rồi Chi đội trưởng.

Một dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời binh nghiệp của ông Đàm Quang Trung diễn ra vào mùa hè năm 1945, khi nhóm sĩ quan thuộc Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ - OSS, mang mật danh “Con Nai”, đến căn cứ Việt Minh ở Tân Trào.

Để phối hợp hoạt động chống phát xít Nhật, một đơn vị được tổ chức với tên gọi Đại đội Việt - Mỹ, gồm lực lượng Giải phóng quân Việt Nam và sự hỗ trợ huấn luyện của nhóm OSS. Đàm Quang Trung được giao làm Đại đội trưởng. Thiếu tá Allison Thomas của OSS tham gia huấn luyện, hướng dẫn sử dụng vũ khí, điện đài và một số kỹ thuật chiến đấu.

Tháng 8/1945, đồng chí Đàm Quang Trung chỉ huy Đại đội Việt - Mỹ gồm 200 chiến sĩ tham gia giải phóng Thái Nguyên, sau đó tiến về Hà Nội, làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch trong những ngày lịch sử của dân tộc, đặc biệt là Lễ Quốc khánh 2/9.

Chỉ huy chiến trường Liên khu 5 đến chiến thắng Điện Biên Phủ và Mặt trận B5

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông Đàm Quang Trung tiếp tục gắn cuộc đời mình với các chiến trường. Ông từng làm Chi đội trưởng Chi đội 4 Giải phóng quân, Khu đội trưởng khu đặc biệt Hà Nội, sau đó được điều vào miền Trung và giữ cương vị Chỉ huy trưởng Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng.

Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quảng Nam - Đà Nẵng là một trong những chiến trường ác liệt. Lực lượng cách mạng phải vừa chiến đấu chống các cuộc tiến công của đối phương, vừa xây dựng đơn vị, củng cố cơ sở và bảo vệ vùng tự do trong điều kiện trang bị còn hạn chế.

Trong giai đoạn 1945-1948, đồng chí Đàm Quang Trung lần lượt giữ nhiều chức vụ chỉ huy như Trung đoàn trưởng, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 31, Phó Tư lệnh và chỉ huy đơn vị chủ lực trên chiến trường Liên khu 5.

Khi Khu 5, Khu 6 và Khu 15 được hợp nhất thành Liên khu 5 năm 1948, Đàm Quang Trung được giao làm Phó Tư lệnh Liên khu. Địa bàn Liên khu 5 khi đó rộng lớn, kéo dài từ miền Trung đến Nam Trung Bộ, đồng thời có quan hệ trực tiếp với chiến trường Nam Lào và Đông Bắc Campuchia.

Quá trình chiến đấu tại miền Trung giúp ông tích lũy thêm kinh nghiệm chỉ huy các đơn vị chủ lực trong điều kiện chiến trường phân tán, lực lượng và trang bị còn nhiều khó khăn. Sau thời gian công tác tại Liên khu 5, ông được điều trở lại miền Bắc.

Trong giai đoạn 1953-1954, Đàm Quang Trung giữ chức Đại đoàn phó Đại đoàn 312, đồng thời là Đảng ủy viên Đại đoàn. Đây là một trong những đại đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam và là lực lượng quan trọng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn bằng trận tiến công cứ điểm Him Lam. Đại đoàn 312 được giao nhiệm vụ chủ công tại trận đánh này. Sau nhiều đợt tiến công liên tục trong 56 ngày đêm, đến chiều 7/5/1954, các đơn vị quân đội Việt Nam tiến vào trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt tướng De Castries cùng toàn bộ bộ chỉ huy quân Pháp. Vị Tư lệnh Đàm Quang Trung cùng Đại đoàn 312 tham gia chiến dịch từ những trận đánh mở màn cho tới thời điểm kết thúc.

Ngày 13/5/1954, trong lễ duyệt binh sau chiến thắng Điện Biên Phủ tại Mường Phăng, Đàm Quang Trung được thay mặt các đơn vị lập công nhận lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sự nghiệp quân sự của ông tiếp tục gắn với nhiều đơn vị, địa bàn chiến lược. Năm 1955, ông được giao phụ trách Đại đoàn 312. Tháng 6/1957, ông giữ chức Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, đồng thời phụ trách Sư đoàn 332. Sau đó, ông được cử sang Liên Xô học tại Học viện Quân sự Frunze.

Trở về nước, ông được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn và được phong quân hàm Đại tá. Tháng 3/1961, Đàm Quang Trung trở thành Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, đồng thời tham gia Thường vụ Quân khu ủy.

Đến tháng 8/1966, khi chiến trường miền Trung bước vào giai đoạn đặc biệt quyết liệt, ông được điều vào làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương của Bộ Quốc phòng tại Mặt trận B5. Mặt trận B5 là địa bàn tác chiến quan trọng ở khu vực Đường 9 - Bắc Quảng Trị, nơi diễn ra nhiều cuộc đọ sức lớn giữa quân đội Việt Nam và quân đội Mỹ cùng quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đường 9 - Khe Sanh trở thành một trong những hướng chiến lược quan trọng. Đàm Quang Trung có thời gian trực tiếp tham gia công tác chỉ huy tại khu vực này trước khi tiếp tục đảm nhận những chức vụ lãnh đạo, chỉ huy tại Quân khu 4.

Năm 1973, ông được giao làm Tư lệnh Quân khu 4. Tháng 4/1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng.

Tư lệnh đầu tiên của Quân khu 1 sau khi tổ chức lại

Sau ngày đất nước thống nhất, ông Đàm Quang Trung tiếp tục đảm nhiệm những trọng trách lớn trong quân đội. Năm 1976, trên cơ sở tổ chức lại lực lượng và địa bàn quân sự ở phía Bắc, ông được giao làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1, đồng thời giữ chức Bí thư Quân khu ủy. Ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Quân khu 1 sau khi quân khu được tổ chức lại.

Địa bàn Quân khu 1 có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng ở vùng Đông Bắc, trong đó có nhiều tỉnh biên giới phía Bắc. Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ông Đàm Quang Trung được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời tham gia Quân ủy Trung ương.

Năm 1979, khi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc diễn ra, Đàm Quang Trung đang giữ cương vị Tư lệnh Quân khu 1. Ông trực tiếp phụ trách lực lượng trên một trong những địa bàn trọng điểm của cuộc chiến.

Tháng 1/1980, ông được phong quân hàm Trung tướng. Năm 1981, Quốc hội khóa VII bầu Đàm Quang Trung làm Ủy viên Hội đồng Nhà nước. Trong thời gian này, ông vẫn tiếp tục giữ cương vị Tư lệnh Quân khu 1.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng tháng 3/1982, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1984, Đàm Quang Trung được phong quân hàm Thượng tướng. Ông tiếp tục giữ chức Tư lệnh Quân khu 1, Bí thư Đảng ủy Quân khu.

Tháng 12/1986, tại Đại hội VI của Đảng, ông lần thứ ba được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và sau đó được Trung ương bầu vào Ban Bí thư. Từ năm 1987 đến năm 1992, Thượng tướng Đàm Quang Trung đảm nhiệm cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Dân tộc.

Năm 1992, Thượng tướng Đàm Quang Trung nghỉ hưu. Ông qua đời ngày 3/3/1995 tại Hà Nội, hưởng thọ 73 tuổi.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến công hạng Nhất, các Huân chương Chiến sĩ vẻ vang và Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Ngày 27/4/2007, Chủ tịch nước quyết định truy tặng Huân chương Sao Vàng cho cố Thượng tướng Đàm Quang Trung vì những đóng góp đặc biệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Tên tuổi của Đàm Quang Trung hiện được đặt cho nhiều tuyến đường, trường học, trong đó có những công trình tại chính quê hương Cao Bằng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Thượng tướng người dân tộc Tày từng là cận vệ của Bác Hồ, Tư lệnh đầu tiên của Quân khu 1, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc | Câu chuyện thời hoa lửa