Bài viết

Thượng tướng Nguyễn Hữu An

Gia Lai18/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thượng tướng Nguyễn Hữu An

Thượng tướng Nguyễn Hữu An (10/1926 – 9/4/1995), sinh ra trong một gia đình dân nghèo yêu nước tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn (nay là xã Trường Yên, huyện Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình. Tháng 8/1945, đồng chí gia nhập quân đội.Nguyễn Hữu An trưởng thành trong quân đội từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong chiến dịch biên giới năm 1950, đồng chí là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 chủ công của Trung đoàn 174 (Trung đoàn Cao Bắc Lạng) – đơn vị đã tấn công và tiêu diệt đồn Đông Khê, mở đầu chiến dịch thắng lợi. Đồng chí lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó trong các trận đánh ở Bình Liêu, Vĩnh Phúc, Mộc Châu... Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, thuộc Đại đoàn 316, 3 lần tấn công đồi A1. Sáng 7/5/1954, Trung đoàn 174 dưới sự chỉ huy của đồng chí đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm A1, mở đường cho quân ta đánh vào cánh đồng Mường Thanh, kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong trận này chính Nguyễn Hữu An là người ra lệnh cho kích nổ khối bộc phá 1000 kg làm tan nát đồi A1. Năm 1964 trên cương vị Sư đoàn trưởng, đồng chí chỉ huy Sư đoàn 325 hành quân vào miền Nam chiến đấu. Vào đến Tây Nguyên, do khó khăn về bảo đảm hậu cần và tình hình thay đổi, Sư đoàn 325 phân tán; 2 trung đoàn được điều chuyển xuống khu 5, chỉ còn Trung đoàn 101 ở lại mặt trận Tây Nguyên (B3). Thời kỳ này đồng chí Nguyễn Hữu An được giao nhiệm vụ làm Phó Tư lệnh B3. Đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy Trung đoàn 101 diệt gọn Tiểu đoàn biệt động của địch mang biệt danh "Cọp đen", đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 44 chủ lực quân lực Việt Nam Cộng hòa, diệt Trung tá Trung đoàn trưởng trung đoàn này. Tháng 11/1965, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh trận Ia Đrăng, đây là trận đánh nổi tiếng ở thung lũng Ia Đrăng đã tiêu diệt hoàn toàn 1 tiểu đoàn và làm thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ. Trận đánh phủ đầu và chiến thắng lực lượng kỵ binh bay của Mỹ khi quân Mỹ vừa vào Việt Nam, một trận thắng mà chính các tướng lĩnh của Mỹ phải thừa nhận "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam". Mùa mưa năm 1966, đồng chí trực tiếp chỉ đạo đánh địch ở chiến trường bắc Kon Tum. Kế hoạch là vây đồn Tu Mơ Rông để diệt viện và sẵn sàng đánh Mỹ (vì có tin Lữ đoàn dù 173 Mỹ sẽ tham chiến). Quân ta vây đồn Tu Mơ Rông được mấy ngày thì Trung đoàn 44 chủ lực ngụy lên chi viện, song chúng chỉ hoạt động vòng ngoài không vào sâu trận địa phục kích của ta, ý kiến của Thường vụ Đảng ủy tiền phương và cơ quan tham mưu là cứ kiên trì diệt một bộ phận Trung đoàn 44 cho chắc ăn, rồi sẽ quay lại đối phó với Mỹ. Riêng đồng chí, sau một đêm suy nghĩ, đã quyết định di chuyển lực lượng vây đồn và diệt viện rút về bố trí ở khu tập kết cách trận địa khá xa. Mọi người tin đồng chí, chấp hành, song vẫn thắc mắc, nếu địch không vào thì sao, đánh hết gạo về tay trắng hay sao? Nhưng khi bộ đội vừa bố trí xong, thì Mỹ ào ạt đổ quân từ trực thăng xuống. Chúng chắc mẩm, chủ lực ta đang bị hút vào mục tiêu quân ngụy, ở đây toàn là lực lượng hậu cần, nếu bóc hết hậu cần thì quân ta hết gạo, đạn, không đánh cũng tan và sẽ quay lại diệt chủ lực ta sau. Như vậy khác với Ia-đrăng, chúng không đổ thẳng quân vào đội hình quân ta để tìm diệt ngay từ đầu. Nhưng chúng đã lầm, rơi vào “ổ kiến lửa”, bị tiêu diệt rất nặng, tình cảnh ở đây cũng như ở Ia-đrăng. Năm 1971, đồng chí là Tư lệnh Sư đoàn 308 tham gia chiến đấu và góp phần cùng các đơn vị khác trong chiến thắng ở mặt trận đường 9-Nam Lào. Sau chiến thắng, đồng chí được Quân ủy Trung ương điều sang giúp Mặt trận Pa thét Lào chiến đấu lấy lại Cánh đồng Chum. Đến cuối tháng 6 năm 1972, Quân ủy Trung ương lại điều đồng chí chỉ huy Sư đoàn 308 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị. Năm 1975, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An là Tư lệnh Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang). Dưới sự chỉ huy của đồng chí Quân đoàn 2 đã lần lượt giải phóng tỉnh Quảng Trị, thành phố Huế; và cùng với các lực lượng vũ trang quân khu 5, trong 3 ngày đêm đã đánh bại gần 10 vạn lính cơ động chủ lực của quân đội Việt Nam Cộng hòa tại căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, sau đó đồng chí đã chỉ huy toàn bộ quân đoàn hành quân gần 1000 km để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, sau khi tiêu diệt tuyến phòng thủ từ xa của quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Phan Rang chỉ trong vòng 24 giờ. Trong trận quyết chiến cuối cùng giải phóng Sài Gòn, Quân đoàn 2 do đồng chí Nguyễn Hữu An chỉ huy là 1 trong 5 cánh quân đã nhanh chóng thọc sâu cắm lá cờ đỏ lên nóc dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trong chiến tranh biên giới Tây Nam, đồng chí chỉ huy Quân đoàn 2 bảo vệ biên giới của Tổ quốc, cùng các đơn vị khác tiến vào sào huyệt của chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Cam-pu-chia, cứu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng (7-1-1979)... Từ năm 1984-1987 đồng chí qua các chức vụ Phó tổng Thanh tra quân đội, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2, rồi quyền Tư lệnh Quân khu 2. Từ năm 1988-1995, đồng chí làm Giám đốc Học viện Lục quân, rồi Giám đốc Học viện Cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Với những thành tích trong quá trình công tác, đồng chí được Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986) và được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn