Thượng tướng Nguyễn Hữu An: Danh tướng cầm quân từ Điện Biên Phủ đến Mùa Xuân 1975
Chân dung Thượng tướng Nguyễn Hữu An (1926–1995), vị chỉ huy xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam quê ở Gia Viễn, Ninh Bình. Bài viết tái hiện bản lĩnh cầm quân mưu lược của ông qua các chiến dịch mang tính bước ngoặt, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng quân đội hiện đại.

THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN HỮU AN (1926 - 1995): TỪ NGƯỜI CON ĐẤT CỐ ĐÔ GIA VIỄN ĐẾN VỊ TƯỚNG TRẬN MẠCH HUYỀN THOẠI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Từng trực tiếp đụng độ và đánh bại những binh đoàn sừng sỏ nhất từ cứ điểm ngầm đồi A1 Điện Biên Phủ cho đến thung lũng khói lửa Ia Đrăng, Thượng tướng Nguyễn Hữu An (1926 – 1995) là một trong những vị tướng trận mạc lừng lẫy nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sinh ra từ vùng đất địa linh nhân kiệt Gia Viễn, Ninh Bình, cuộc đời 69 năm của ông là một bản hùng ca bất tử về bản lĩnh, tài thao lược và ý chí xông pha trên mọi chiến trường khốc liệt nhất. Bằng tư duy quân sự sắc sảo cùng trái tim thương yêu chiến sĩ bao la, người con ưu tú của Cố đô đã khắc tên mình vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng sáng ngời về phẩm chất Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ngày 9 tháng 10 năm 1926 tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (vùng đất mang đậm dấu ấn lịch sử của Cố đô Hoa Lư). Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và thượng võ, tuổi thơ của ông gắn liền với cảnh nghèo khó, cơ cực dưới ách đô hộ của chính quyền thực dân - phong kiến. Chính hoàn cảnh đó đã sớm nuôi dưỡng trong lòng người thanh niên xứ Ninh Bình ý chí kiên cường và khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Tháng 8 năm 1945, khi làn sóng Tổng khởi nghĩa giành chính quyền bùng nổ khắp cả nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Hữu An đã quyết định gác lại cuộc sống thường nhật, tình nguyện gia nhập lực lượng Giải phóng quân tại Yên Bái. Bắt đầu sự nghiệp binh nghiệp từ vị trí một Tiểu đội trưởng, ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông đã vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự kiện này chính là bước ngoặt quyết định, đưa người thanh niên giàu nhiệt huyết bước vào con đường đấu tranh cách mạng chuyên nghiệp, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Nguyễn Hữu An liên tục có mặt ở những nơi đầu sóng ngọn gió trên chiến trường Bắc Bộ. Nhờ tư duy quân sự sắc sảo, tác phong sâu sát và tinh thần chiến đấu dũng cảm, ông tiến bộ rất nhanh qua các cấp chỉ huy: từ Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng cho đến Trung đoàn trưởng. Ông đã tham gia chỉ huy nhiều trận đánh nổi tiếng tại Đông Khê, Thất Khê trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, cũng như các chiến dịch lớn tại Mộc Châu, Bình Liêu và chiến trường Tây Bắc.
Đỉnh cao cống hiến của ông trong giai đoạn này là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi đó, ở tuổi 28, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An chỉ huy Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) – đơn vị chủ lực được giao nhiệm vụ đánh chiếm cứ điểm đồi A1, chiếc chìa khóa quan trọng nhất trong hệ thống phòng ngự tập đoàn cứ điểm Mường Thanh của quân Pháp.
Trận đánh đồi A1 diễn ra vô cùng khốc liệt, hai bên giằng co từng tấc đất suốt hàng tuần liền. Dưới sự chỉ huy kiên cường, linh hoạt của Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An, Trung đoàn 174 đã kiên trì bám trụ, tổ chức các đợt tiến công táo bạo, kết hợp đào hầm ngầm đặt khối thuốc nổ 960kg. Đêm ngày 5, rạng sáng ngày 6 tháng 5 năm 1954, khối thuốc nổ phát nổ tiêu diệt phần lớn lực lượng cố thủ, mở đường cho quân ta đập tan hoàn toàn cứ điểm A1, góp phần quyết định vào chiến thắng chấn động địa cầu ngày 7 tháng 5 năm 1954.
Sau năm 1954, ông tiếp tục giữ các chức vụ Tham mưu phó Sư đoàn 316, Tham mưu phó Quân khu Tây Bắc và được gửi đi đào tạo quân sự cao cấp. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược, đưa quân viễn chinh trực tiếp vào miền Nam, Nguyễn Hữu An lại tiếp tục xông pha ra mặt trận. Tháng 9 năm 1964, ông đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 325 tiến vào Tây Nguyên và làm Phó Tư lệnh Mặt trận B3.
Tháng 11 năm 1965, Thượng tướng Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy Trận thung lũng Ia Đrăng – cuộc đối đầu trực diện đầu tiên giữa Quân Giải phóng Việt Nam và Sư đoàn Không vận Kỵ binh số 1 của quân đội Mỹ. Trước một kẻ thù vượt trội hoàn toàn về hỏa lực, phương tiện cơ động và không quân, ông đã đề ra phương châm tác chiến táo bạo: "Nắm thắt lưng địch mà đánh", áp sát đánh giáp lá cà để vô hiệu hóa pháo binh và máy bay Mỹ. Trận Ia Đrăng thắng lợi đã giáng một đòn mạnh vào chiến lược "Chiến tranh cục bộ", chứng minh quân và dân ta hoàn toàn có khả năng đánh bại quân đội hiện đại bậc nhất thế giới.
Trong những năm tiếp theo, tài năng cầm quân của tướng Nguyễn Hữu An tiếp tục tỏa sáng trên nhiều chiến trường chiến lược. Ông tham gia chỉ huy Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), làm Tư lệnh Mặt trận Trị Thiên trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972. Năm 1974, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) vừa mới thành lập. Dưới sự chỉ huy thần tốc và quyết đoán của ông, Quân đoàn 2 đã giải phóng Huế, Đà Nẵng, sau đó thực hiện cuộc tiến quân thần tốc dọc duyên hải miền Trung để tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cắm lá cờ chiến thắng lên Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Sau khi đất nước thống nhất, Thượng tướng Nguyễn Hữu An tiếp tục đem hết tâm huyết và trí tuệ phục vụ sự nghiệp củng cố quốc phòng và xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến lên chính quy, hiện đại. Ông trải qua nhiều cương vị lãnh đạo chủ chốt: Tư lệnh Quân khu 2, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam và Giám đốc Học viện Quốc phòng (khi đó là Học viện Quân sự cấp cao).
Trên cương vị nhà giáo dục quân sự, Phó Giáo sư Nguyễn Hữu An đã dành nhiều tâm huyết cho công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết nghệ thuật chiến tranh nhân dân và đào tạo hàng ngàn sĩ quan chỉ huy cao cấp cho quân đội. Đồng đội và học viên nhớ đến ông không chỉ như một "vị tướng trận mạc" mưu lược, quyết đoán trước kẻ thù, mà còn là một người chỉ huy nhân hậu, giản dị, luôn quan tâm chăm lo đời sống chiến sĩ.
Ghi nhận những đóng góp to lớn của ông cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Khép lại chặng đường 69 năm cuộc đời, Thượng tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Hữu An đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà Tổ quốc và Nhân dân giao phụng. Từ một thanh niên áo vải miền quê nghèo Gia Viễn bước vào Giải phóng quân năm 1945, ông đã đi trọn hai cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc, trở thành vị chỉ huy huyền thoại mang tầm vóc đại trí, đại dũng. Lịch sử có thể lùi xa, những đám mây chiến tranh đã tan biến trên không trung, nhưng di sản quân sự và ngọn lửa nhiệt huyết chiến đấu của Thượng tướng Nguyễn Hữu An sẽ còn cháy mãi trong lòng dân tộc. Tên ông không chỉ được khắc trang trọng trên những con phố lớn hay gạch nối lịch sử, mà đã đọng lại vĩnh hằng như một pho sử sống về khí tiết và bản lĩnh Việt Nam.



