Bài viết

Thượng tướng Nguyễn Hữu An: Từ người con Hoa Lư đến vị tướng của những trận đánh lớn

Sinh ra ở Gia Viễn (Ninh Bình), Nguyễn Hữu An đi từ tiểu đội trưởng năm 1945 đến Thượng tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, để lại dấu ấn ở Điện Biên Phủ, Ia Đrăng và Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ninh Bình22/10/2026Phạm Hoàng Long (Đại học Bách Khoa Hà Nội)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Xuất thân và bước vào cách mạng

Nguyễn Hữu An sinh ngày 9/10/1926 tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (nay thuộc thành phố Hoa Lư). Tháng 8/1945, ông tình nguyện vào Giải phóng quân ở Yên Bái và được cử làm tiểu đội trưởng. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp

Ông trưởng thành từ người chiến sĩ lên đến chức Trung đoàn trưởng. Ông tham gia chỉ huy nhiều trận đánh như Bông Lau – Lũng Phầy, Đông Khê, Thất Khê, Mộc Châu, Bình Liêu. Ở Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông mới 28 tuổi và chỉ huy Trung đoàn 174 tiến công cứ điểm đồi A1. Đây là một trong những cứ điểm quan trọng nhất của tập đoàn cứ điểm. Sau khi A1 thất thủ, quân ta tiến sâu vào trung tâm Mường Thanh và chiến dịch kết thúc thắng lợi ngày 7/5/1954.

Những năm xây dựng quân đội

Năm 1955, ông làm Tham mưu phó Sư đoàn 316. Từ tháng 6/1957, ông làm Tham mưu phó Quân khu Tây Bắc, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang từ cấp quân khu đến địa phương.

Tây Nguyên và trận Ia Đrăng

Tháng 9/1964, ông nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 325 rồi vào chiến trường Tây Nguyên, giữ cương vị Phó Tư lệnh Mặt trận B3. Tại đây, ông chỉ huy Trung đoàn 101 trong khoảng một tháng để giải phóng ba quận lỵ Tu Mơ Rông, Đắk Tô, Đắk Sút. Tháng 11/1965, ông trực tiếp chỉ huy trận Ia Đrăng. Trận này loại khỏi vòng chiến một tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ và gây thiệt hại nặng cho tiểu đoàn còn lại. Theo Báo Nhân Dân, nhiều năm sau, Trung tướng Harold Moore của phía Mỹ, người từng chỉ huy một tiểu đoàn trong trận này, cũng đánh giá đây là trận đánh có tác động lớn đến cục diện chiến tranh.

Từ Đường 9 – Nam Lào đến Quảng Trị

Tháng 1/1969, ông làm Tư lệnh Sư đoàn 308. Đầu năm 1971, ông chỉ huy sư đoàn cơ động nhanh vào chiến trường Đường 9 – Nam Lào. Tháng 7/1972, ông được điều vào Quảng Trị, sau đó làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Trị – Thiên, chỉ huy bộ đội ngăn các đợt hành quân của đối phương.

Mùa Xuân 1975

Đầu năm 1975, ông làm Tư lệnh Quân đoàn 2. Quân đoàn phối hợp các lực lượng giải phóng Huế và Đà Nẵng. Sau đó quân đoàn hành quân gần 1.000 km vào Nam để tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sau chiến tranh

Từ 1977 đến 1981, ông tiếp tục chỉ huy Quân đoàn 2 bảo vệ biên giới Tây Nam. Ông giữ các chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, quyền Tư lệnh Quân khu 2 (1984–1987), Giám đốc Học viện Lục quân (1988–1991) và Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao (1991–1995). Ông được phong quân hàm Thượng tướng năm 1986.

Ghi nhận

Ông được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, ba Huân chương Quân công, ba Huân chương Chiến công, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Thượng tướng Nguyễn Hữu An: Từ người con Hoa Lư đến vị tướng của những trận đánh lớn | Câu chuyện thời hoa lửa