Anh hùng Lực lượng vũ trang

THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN HỮU AN – VỊ TƯỚNG TRẬN MẠC ĐI QUA NHỮNG CHIẾN THẮNG LỚN CỦA DÂN TỘC

Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, có những vị tướng gắn liền với một chiến dịch, một chiến trường hay một chiến công tiêu biểu. Tuy nhiên, Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một trong số ít những người chỉ huy quân sự đã có mặt và để lại dấu ấn ở hầu hết các chiến trường quan trọng nhất của dân tộc trong thế kỷ XX. Từ Chiến dịch Biên giới năm 1950, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, trận Ia Drăng năm 1965 cho đến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, tên tuổi của ông luôn gắn liền với những thời k

An Giang06/06/2026Tuấn Kiệt (tổng hợp) (xã Long Kiến)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ngày 1 tháng 10 năm 1926 tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Sinh ra trên vùng đất cố đô giàu truyền thống lịch sử và cách mạng, ông sớm tham gia phong trào yêu nước, tham gia cách mạng từ năm 1945, gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam ngay trong những ngày đầu thành lập và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương cùng năm.

Cuộc đời binh nghiệp của ông kéo dài gần nửa thế kỷ, trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, đồng thời đảm nhiệm nhiều trọng trách trong sự nghiệp xây dựng quân đội sau ngày đất nước thống nhất.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nguyễn Hữu An trưởng thành nhanh chóng qua thực tiễn chiến đấu. Năm 1950, khi mới 24 tuổi, ông giữ cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 thuộc Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Trong Chiến dịch Biên giới, đơn vị của ông tham gia tiến công cứ điểm Đông Khê, một trong những trận đánh có ý nghĩa chiến lược mở đầu cho bước phát triển mới của cuộc kháng chiến. Chiến thắng Đông Khê đã phá vỡ tuyến phòng thủ của quân Pháp trên đường số 4, mở thông biên giới Việt – Trung và tạo điều kiện quan trọng cho cách mạng Việt Nam nhận được sự chi viện từ bên ngoài.

Sau Chiến dịch Biên giới, ông tiếp tục tham gia chỉ huy nhiều trận đánh lớn tại Bình Liêu, Vĩnh Phúc, Mộc Châu, Lũng Phầy và đèo Bông Lau, từng bước khẳng định năng lực của một cán bộ chỉ huy trẻ tuổi nhưng giàu bản lĩnh.

Tên tuổi Nguyễn Hữu An thực sự được ghi dấu trong lịch sử quân sự Việt Nam qua trận đánh đồi A1 tại Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi ấy, ông mới 28 tuổi nhưng đã là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 thuộc Đại đoàn 316. Đồi A1 được quân Pháp xây dựng thành một trong những cứ điểm mạnh nhất bảo vệ khu trung tâm Mường Thanh, được ví như “cánh cửa thép” của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau nhiều đợt tiến công gặp khó khăn và tổn thất lớn, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng phương án đào đường hầm xuyên lòng đồi để đặt khối bộc phá lớn. Trung đoàn 174 dưới sự chỉ huy của Nguyễn Hữu An là lực lượng trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ then chốt này. Đêm 6 tháng 5 năm 1954, khối bộc phá phát nổ, tạo điều kiện cho quân ta mở cuộc tiến công quyết định. Rạng sáng ngày 7 tháng 5, Trung đoàn 174 làm chủ hoàn toàn đồi A1, mở toang cánh cửa phía đông Mường Thanh, tạo tiền đề cho cuộc tổng công kích kết thúc thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Hữu An tiếp tục được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng tại chiến trường Tây Nguyên. Năm 1965, trên cương vị Tham mưu phó Mặt trận Tây Nguyên (B3), ông trực tiếp tham gia chỉ huy trận Ia Drăng. Đây là lần đầu tiên quân giải phóng đối đầu trực diện với lực lượng quân đội Mỹ trên quy mô lớn, cụ thể là Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 – đơn vị hiện đại bậc nhất của quân đội Hoa Kỳ thời điểm đó.

Diễn ra trong điều kiện đối phương có ưu thế tuyệt đối về không quân, pháo binh và trực thăng vận, trận Ia Drăng trở thành một trong những trận đánh ác liệt nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam. Dưới sự chỉ huy của các cán bộ chỉ huy mặt trận, trong đó có Nguyễn Hữu An, quân giải phóng đã kiên cường chiến đấu, gây cho đối phương nhiều tổn thất nặng nề và chứng minh khả năng đánh bại chiến thuật trực thăng vận của quân đội Mỹ.

Sau này, trận Ia Drăng trở thành đề tài của bộ phim điện ảnh nổi tiếng We Were Soldiers. Trong phim, nhân vật Nguyễn Hữu An được tái hiện qua diễn xuất của Đơn Dương. Tuy nhiên, bộ phim cũng gây nhiều tranh luận do một số chi tiết chưa phản ánh đầy đủ bối cảnh lịch sử thực tế.

Trong những năm tiếp theo, Nguyễn Hữu An tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như Tư lệnh Sư đoàn 308, chỉ huy các lực lượng chiến đấu trên mặt trận Đường 9 – Nam Lào, chiến trường Quảng Trị và tham gia hỗ trợ cách mạng Lào tại Cánh đồng Chum.

Đến mùa Xuân năm 1975, ông giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang, một trong những lực lượng chủ lực tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam. Dưới sự chỉ huy của ông, Quân đoàn 2 liên tiếp lập nhiều chiến công quan trọng, góp phần giải phóng Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng, đồng thời thực hiện cuộc hành quân thần tốc vượt gần 1.000 km tiến vào Nam.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 đã đập tan tuyến phòng thủ Phan Rang, mở đường tiến thẳng về Sài Gòn. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị của ông là một trong năm cánh quân chủ lực tiến vào trung tâm thành phố, góp phần làm nên thắng lợi lịch sử, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất đất nước.

Sau ngày đất nước hòa bình, Nguyễn Hữu An tiếp tục đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội như Tư lệnh Quân đoàn 2, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2, Giám đốc Học viện Lục quân và Giám đốc Học viện Quốc phòng. Ông có nhiều đóng góp trong công tác đào tạo cán bộ, xây dựng nghệ thuật quân sự Việt Nam và phát triển nền quốc phòng toàn dân.

Trong quá trình công tác, ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1980 và Thượng tướng năm 1986. Ông được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhất, hai Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2014.

Thượng tướng Nguyễn Hữu An từ trần ngày 9 tháng 4 năm 1995 tại Hà Nội. Dù không phải là người thường xuyên xuất hiện trước công chúng, ông vẫn được đồng đội và các thế hệ cán bộ quân đội nhắc nhớ như một vị tướng trận mạc tiêu biểu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng gọi ông là “vị tướng trận mạc”, một sự ghi nhận đặc biệt dành cho người chỉ huy đã đi qua những chiến trường ác liệt nhất của dân tộc.

Từ Đông Khê năm 1950, đồi A1 năm 1954, Ia Drăng năm 1965 cho đến mùa Xuân đại thắng năm 1975, cuộc đời binh nghiệp của Thượng tướng Nguyễn Hữu An gần như gắn liền với những cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam hiện đại. Tên tuổi và những đóng góp của ông mãi mãi là niềm tự hào của Quân đội nhân dân Việt Nam và của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Tuấn Kiệt (tổng hợp)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn