Anh hùng Lực lượng vũ trang

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu - Thượng tướng, Viện sĩ, Anh hùng LLVTND Nguyễn Huy Hiệu

Lời kể/ký ức của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu về cuộc hành quân thần tốc mùa xuân 1975 và cuộc gặp má Sáu Ngẫu ở Lái Thiêu đêm 29/4/1975, khi tấm bản đồ viết tay của má giúp Trung đoàn 27 đánh chiếm cầu Vĩnh Bình, mở đường tiến vào Sài Gòn.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 1 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, mùa xuân năm 1975 không chỉ là những đoàn quân thần tốc tiến về Sài Gòn. Đó còn là một đêm rất lặng ở Lái Thiêu, một căn nhà lá le lói ánh đèn dầu, một người má miền Nam thức chờ bộ đội, và một tấm bản đồ viết tay đã trở thành kỷ vật không thể quên của đời lính.

Năm 1975, Nguyễn Huy Hiệu là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1. Khi ấy ông mới chưa đầy ba mươi tuổi, nhưng đã đi qua nhiều chiến trường ác liệt. Ông từng chiến đấu ở Mậu Thân 1968, Đường 9 - Nam Lào năm 1971, Quảng Trị năm 1972. Đến mùa xuân năm 1975, ông cùng đơn vị nhận nhiệm vụ hành quân bằng cơ giới từ Tam Điệp, Ninh Bình vào phía Nam, ban đầu làm lực lượng dự bị cho hướng Huế - Đà Nẵng.

Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Huế được giải phóng. Chiến trường chuyển biến quá nhanh. Trung đoàn 27 chưa kịp dừng chân đã nhận lệnh quay ra Đông Hà, vượt đèo Ang Bun, rồi theo tuyến Trường Sơn Đông hành quân vào Đồng Xoài, chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng. Cuộc hành quân ấy là một cuộc chạy đua với thời gian. Xe pháo, bộ đội, khí tài nối nhau đi trong bụi đỏ bazan mù mịt. Mùa khô Tây Nguyên nắng gắt, đường rừng vừa xa vừa hiểm, nhiều đoạn tắc nghẽn vì quá nhiều đơn vị cùng dồn về phía Nam.

Có lúc đoàn xe phải dừng lại giữa rừng. Người lính mệt rã rời vì thiếu ngủ, bụi phủ kín mặt, chỉ còn đôi mắt. Bữa ăn trên đường hành quân thường là lương khô, gạo rang, thịt hộp; nơi nào có suối thì tranh thủ dừng lại lấy nước, nấu vội nồi cơm. Nhưng không ai được phép chậm. Mệnh lệnh của chiến dịch là phải tiến nhanh hơn nữa, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ để xốc tới mặt trận.

Khi Trung đoàn 27 đến đèo Ang Bun, đơn vị nhận được bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đài 15W. Nội dung bức điện như thổi bùng ngọn lửa trong lòng người lính: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam; quyết chiến và toàn thắng”. Nguyễn Huy Hiệu lập tức truyền đạt mệnh lệnh đến toàn trung đoàn. Những người lính đang kiệt sức vì hành quân bỗng như quên hết mệt nhọc. Họ siết lại dây ba lô, kiểm tra súng đạn, tiếp tục lên đường.

Đêm 25, rạng sáng 26 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 27 tập kết tại Bàu Cá Trê, cách Tân Uyên, Bình Dương khoảng 5 km. Sáng hôm sau, đơn vị tiến công bằng bộ binh cơ giới, đánh qua Tân Uyên, bắt tù binh địch, dùng xe tăng làm mũi nhọn dẫn đầu để tiến qua Bình Chuẩn. Trước mắt họ là cửa ngõ phía bắc Sài Gòn. Càng gần thành phố, nhiệm vụ càng gấp, nguy hiểm càng lớn. Địch vẫn còn lực lượng, vẫn còn xe tăng, pháo binh và các tuyến phòng thủ cuối cùng.

Đêm 29 tháng 4, Trung đoàn 27 đến Búng, cách Lái Thiêu khoảng 10 km. Trục đường 13 tối mịt. Không gian im ắng nhưng đầy bất trắc. Thỉnh thoảng đâu đó vẫn có tiếng súng. Giữa bóng tối, Nguyễn Huy Hiệu nhìn thấy một căn nhà lá đơn sơ có ánh đèn dầu lúc sáng, lúc mờ. Trực giác của người chỉ huy mách bảo ông rằng đó có thể là cơ sở cách mạng. Ông cùng tổ trinh sát băng qua khu nghĩa địa, men theo bìa rừng, tiến lại gần căn nhà.

Để bắt liên lạc, trinh sát hô nhỏ ba lần: “Hồ Chí Minh”. Một lát sau, từ trong nhà có tiếng đáp lại: “Muôn năm”. Cánh cửa mở ra. Một người má miền Nam bước ra đón bộ đội. Đó là má Huỳnh Thị Sáu, thường gọi là má Sáu Ngẫu. Chồng má bị địch bắt sau Mậu Thân 1968, bị đày ra Côn Đảo rồi hy sinh. Một mình má tiếp tục nuôi con, giữ cơ sở, che chở cán bộ, chờ ngày quân giải phóng trở về.

Bước vào căn nhà nhỏ, Nguyễn Huy Hiệu thưa với má rằng đơn vị ông có nhiệm vụ đánh chiếm Lái Thiêu, chiếm cầu Vĩnh Bình và tiến công vào Bộ Tư lệnh thiết giáp của quân đội Sài Gòn. Đơn vị cần thông tin thật chính xác về đường đi, cầu cống, vị trí địch, các điểm chốt chặn. Ông mở bản đồ chỉ huy cho má xem. Má nhìn tấm bản đồ ấy rồi nói đại ý rằng má không rành bản đồ này. Sau đó má vào buồng, mang ra một tấm bản đồ khác.

Đó là một tấm bản đồ viết tay.

Nguyễn Huy Hiệu nhớ rất rõ cảm giác khi nhìn tấm bản đồ ấy. Những nét chữ của má ngay ngắn, rõ ràng, các con đường, vị trí địch, cầu cống, khu vực đóng quân đều được ghi lại cẩn thận. Sau này ông mới biết má từng là giáo viên dạy tiếng Pháp ở Sài Gòn. Nhưng trong đêm 29 tháng 4 ấy, với người chỉ huy Trung đoàn 27, tấm bản đồ viết tay của má không chỉ là một tài liệu dẫn đường. Nó là trí nhớ của nhân dân, là thông tin sống từ lòng đô thị, là sự chuẩn bị thầm lặng của cơ sở cách mạng ngay trong vùng địch kiểm soát.

Má Sáu Ngẫu nói với ông rằng cách nơi đơn vị đóng quân không xa có trại Huỳnh Văn Lương, trong đó có khoảng 2.000 hạ sĩ quan và một đại tá chỉ huy. Má nhận định rằng khi bộ đội tiến công, không cần đánh mạnh vào đó, nhiều khả năng họ sẽ kêu hàng. Điều quan trọng nhất là phải chiếm thật nhanh Lái Thiêu và cầu Vĩnh Bình. Má dặn nếu không chiếm được cầu Vĩnh Bình thì xe tăng, xe cơ giới của quân giải phóng sẽ rất khó vào Sài Gòn theo trục đường này.

Ông hỏi má còn đường nào khác không. Má cho biết có đường sắt Lái Thiêu, nhưng xe tăng không đi được. Rồi má nói một câu khiến những người lính trong căn nhà lặng đi: sáng mai má và hai người con của má sẽ ngồi lên xe tăng để dẫn đường cho bộ đội tiến công vào Gò Vấp. Đó không phải là lời nói nhất thời. Với má, việc đưa bộ đội vào Sài Gòn cũng là việc của gia đình mình, của nhân dân mình. Má đã mất chồng vì cách mạng, vậy mà trong giờ phút cuối cùng của cuộc chiến, má vẫn sẵn sàng đặt cả mình và các con vào hiểm nguy để dẫn đường cho quân giải phóng.

Nguyễn Huy Hiệu xúc động nhưng từ chối. Ông thưa rằng má đã lớn tuổi, các em còn nhỏ, bộ đội sẽ tự đánh và sau khi hoàn thành nhiệm vụ sẽ quay lại cảm ơn má cùng đồng bào. Nhưng đêm ấy, tấm bản đồ và những lời chỉ dẫn của má đã được Ban Chỉ huy Trung đoàn 27 dùng ngay để điều chỉnh kế hoạch tiến công. Trong chiến tranh, có những tài liệu được in trên giấy quân sự, có những bản đồ được lập bởi cơ quan tham mưu; nhưng cũng có những tấm bản đồ được viết bằng lòng dân, bằng sự chịu đựng và quan sát âm thầm của những người sống ngay trong vùng địch.

Lúc 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 27 bắt đầu tiến công bằng cơ giới. Trên hướng Lái Thiêu, một tiểu đoàn đã luồn sẵn vào vị trí. Khi đơn vị vượt qua khu vực này, tình hình đúng như má Sáu Ngẫu dự đoán: có nơi địch rối loạn, có nơi không còn đủ tinh thần kháng cự. Nhưng ở các điểm then chốt, đặc biệt là khu vực cầu Vĩnh Bình, địch vẫn chống trả quyết liệt. Đây là tuyến phòng thủ cuối cùng trước khi quân giải phóng có thể thọc sâu vào Sài Gòn theo hướng bắc.

Cầu Vĩnh Bình lúc ấy bị chằng chịt dây thép gai, thùng phuy cát và các vật cản. Địch hiểu rằng nếu mất cây cầu này, cánh cửa cơ giới vào Sài Gòn sẽ mở ra. Trung đoàn 27 phải dùng hỏa lực mạnh để chế áp, phối hợp xe tăng, bộ binh đánh thẳng vào tuyến phòng thủ. Đại đội trưởng Đại đội xe tăng Hoàng Thọ Mạc chỉ huy xe chiến đấu rất dũng cảm, bắn cháy nhiều xe địch. Khi xe bị hỏng, anh xuống chỉ huy tổ B40, B41 tiếp tục chiến đấu và sau đó hy sinh.

Nguyễn Huy Hiệu quyết định đưa thi hài người đại đội trưởng xe tăng lên xe, cùng đồng đội tiếp tục tiến về Sài Gòn. Đó là một khoảnh khắc vừa đau xót, vừa thôi thúc. Người chỉ huy hiểu rằng chiến thắng đang ở rất gần, nhưng mỗi bước tiến vẫn được đổi bằng máu của đồng đội. Không ai được phép dừng lại quá lâu trong nỗi đau. Phía trước vẫn còn mục tiêu phải chiếm, vẫn còn nhiệm vụ phải hoàn thành.

Đến khoảng 9 giờ sáng, Trung đoàn 27 chiếm được cầu Vĩnh Bình. Con đường cơ giới vào Sài Gòn được mở. Gần 10 giờ, đơn vị đánh chiếm Bộ Tư lệnh thiết giáp của quân đội Sài Gòn ở Gò Vấp, tiếp quản nhiều căn cứ lục quân và công sở. Khi tiến đến Tổng Y viện Cộng Hòa, nay là Bệnh viện Quân y 175, Nguyễn Huy Hiệu gặp Phạm Hà Thanh, Cục trưởng Cục Quân y của phía bên kia. Ông tuyên bố quân giải phóng sẽ khoan hồng, nhưng mọi người phải chấp hành mệnh lệnh. Sau khi kiểm tra tình hình, ông cho phép thân nhân binh sĩ phía Sài Gòn đưa thương binh rời viện, rồi mới đưa lực lượng quân giải phóng vào tiếp quản.

Trong ngày 30 tháng 4 ấy, biển người đổ ra các tuyến đường, cờ tung bay, tiếng reo mừng vang lên khắp nơi. Với Nguyễn Huy Hiệu, đó là mùa xuân vui nhất, đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Nhưng giữa niềm vui ấy, ông vẫn nhớ lời hứa với má Sáu Ngẫu. Ngay hôm sau, ông cùng đồng đội quay lại căn nhà ở Lái Thiêu để thăm và cảm ơn má cùng bà con. Nhân dân đứng dọc hai bên đường vẫy cờ hoa, tặng bộ đội sầu riêng, măng cụt, chôm chôm. Sau bao năm che chở cách mạng trong lặng lẽ, những người dân ấy cuối cùng đã được đón bộ đội trong ánh sáng của ngày hòa bình.

Nhiều năm sau, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu vẫn trở lại Lái Thiêu để thăm má Sáu Ngẫu, rồi sau khi má mất, ông cùng đồng đội và gia đình xây mộ, dựng bia ghi ơn má. Mỗi dịp tháng Tư, câu chuyện về tấm bản đồ viết tay lại trở về trong ký ức ông như một lời nhắc rất sâu sắc: chiến thắng không chỉ được làm nên bởi súng đạn và mệnh lệnh quân sự. Chiến thắng còn được làm nên bởi lòng dân, bởi những người má miền Nam âm thầm giữ cơ sở, nắm từng con đường, từng cây cầu, từng vị trí địch, rồi trao lại cho bộ đội đúng giờ phút quyết định.

Câu chuyện của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu vì thế không chỉ là câu chuyện về một cuộc hành quân thần tốc. Đó là câu chuyện về sự gặp gỡ giữa quân đội và nhân dân trong thời khắc cuối cùng của chiến tranh. Một bên là trung đoàn chủ lực đang lao về Sài Gòn theo mệnh lệnh “thần tốc”; một bên là người má miền Nam đã bao năm sống trong vùng địch, lặng lẽ chờ ngày được trao cho bộ đội tấm bản đồ của lòng mình. Tấm bản đồ ấy không chỉ dẫn đường qua Lái Thiêu, cầu Vĩnh Bình, Gò Vấp. Nó còn dẫn người đọc hôm nay đi đến một sự thật giản dị: trong mọi chiến thắng lớn của dân tộc, luôn có bóng dáng của nhân dân.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Nhân Dân và Thanh Niên: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu sinh năm 1947 ở Hải Hậu, Nam Định; năm 1975 là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1; Trung đoàn hành quân từ Tam Điệp vào Đông Hà, sau đó vượt đèo Ang Bun, theo Trường Sơn Đông vào Đồng Xoài; đêm 29/4/1975 gặp má Sáu Ngẫu ở Búng, Lái Thiêu và được má trao tấm bản đồ viết tay.

Nguồn Thanh Niên và Cựu Chiến binh Việt Nam ghi rõ các chi tiết: má Sáu Ngẫu chỉ dẫn phải chiếm nhanh Lái Thiêu, cầu Vĩnh Bình; sáng 30/4 Trung đoàn 27 tiến công bằng cơ giới, đánh qua Lái Thiêu, chiếm cầu Vĩnh Bình khoảng 9 giờ, sau đó đánh chiếm Bộ Tư lệnh thiết giáp ở Gò Vấp và tiếp quản Tổng Y viện Cộng Hòa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn