Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu - Vị tướng bình dị và một đời cống hiến
Nguyễn Huy Hiệu (sinh ngày 17 tháng 7 năm 1947) là một sĩ quan cấp cao trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng. Ông nguyên là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam (1998-2011), nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng (1995-1998)

Nhắc đến Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu là nhắc đến một vị tướng trưởng thành từ trận mạc. Ông từng tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong 4 chiến dịch lớn là: Mậu Thân 1968; Đường 9 - Nam Lào 1971; Quảng Trị 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Đời binh nghiệp, ông đã trải qua 67 trận đánh ác liệt, bị thương ở chiến trường. Khi được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, Nguyễn Huy Hiệu vừa tròn 26 tuổi và năm 40 tuổi được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành một trong những vị tướng trẻ nhất toàn quân ở thời điểm đó… Thế nhưng, trong cuộc trò chuyện với tôi, ông hiếm khi nhắc đến chiến công của mình. Ông chỉ nhắc về đồng đội, nhiều người đã nằm lại trên mảnh đất Quảng Trị đỏ lửa năm nào.
Có một điều đặc biệt ở Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu: Mỗi năm, ông đều trở về chiến trường xưa. “Đó là lời hẹn với đồng đội”, ông nói ngắn gọn.
Những chuyến trở lại ấy không chỉ để thắp hương tri ân mà còn để ông làm những việc ý nghĩa khác. Bao năm qua, ông luôn nỗ lực vận động, kết nối, góp công góp sức xây dựng Đền thờ Liệt sĩ ở Cao điểm 31, Cụm Văn hóa tâm linh chùa Gio An, Đền cây đa giếng Đìa, Khu tưởng niệm Trung đoàn 27, Tượng đài Hoài niệm Quảng Trị, tượng đài má Sáu Ngẫu (ở tỉnh Bình Dương trước đây)… với tâm niệm tri ân các Anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Đó không chỉ là những công trình tưởng nhớ, mà còn là nơi để thế hệ trẻ đến, hiểu hơn về quá khứ.
“Không ít đêm, tôi không ngủ được. Nghĩ về những người đã nằm lại dưới lớp đất này, tôi tự nhủ phải sống sao cho xứng đáng”, vị tướng trầm giọng.
Mỗi dịp tháng Bảy, gió Lào rát bỏng thổi qua những cánh rừng bạch đàn, bờ sông Thạch Hãn xanh biếc. Trước những hàng bia mộ ở Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, ông đứng lặng thật lâu như nhớ về một thời bom đạn. May mắn hơn những đồng đội đã nằm lại chiến trường xưa, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu sống giữa thời bình vẫn canh cánh nỗi lòng với những người đồng chí của mình. Chính ký ức đó đã thôi thúc ông làm những điều ý nghĩa, không phô trương, không ồn ào, chỉ bền bỉ suốt nhiều thập kỷ.
Hễ khi nào có điều kiện, ông lại lên đường làm việc nghĩa, từ việc cùng nhân dân tôn tạo lại những di tích lịch sử, thăm hỏi, tặng quà gia đình chính sách, trẻ em bị ảnh hưởng chất độc da cam, đến việc giúp đỡ thân nhân đồng đội đi tìm mộ liệt sĩ mà trước đây ông đã tự tay ghi chép tỉ mỉ tên tuổi từng người, quê quán, nơi chôn cất…
Chỉ tính riêng số đồng đội hy sinh mà Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu trực tiếp chứng kiến, có người được chính tay ông băng bó thi thể, rồi cõng đi mai táng, đã lên tới hàng trăm người. Người ta ví ông như một “cuốn lịch sử sống” về các trận đánh oanh liệt của Quân Giải phóng. Nhờ những ghi chép và trí nhớ đặc biệt của ông mà sau này rất nhiều gia đình đã tìm được hài cốt của người thân đưa về an táng tại quê nhà...
Trong đó, có câu chuyện cảm động của bà Tô Kim Khuy ở xóm 12, xã Giao Hà, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cũ (nay là Ninh Bình). Thông qua hồi ức và những ghi chép của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, bà biết được chồng mình là Đại đội trưởng xe tăng, Anh hùng liệt sĩ Hoàng Thọ Mạc đã chiến đấu anh dũng và hy sinh vào giờ phút chót của cuộc chiến tranh giải phóng đất nước, đó là trưa 30-4-1975, trước cửa ngõ phía Bắc của Sài Gòn.
Có thể nói rằng, dù đã nghỉ hưu nhưng những bước chân không mỏi mệt của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu vẫn in dấu trên khắp các vùng quê, nơi có những đồng đội của ông an nghỉ…


