Thượng tướng Phạm Thanh Ngân – từ phi công Ace đến người giữ vững mạch sống chính trị của Quân đội
Thượng tướng, Anh hùng LLVTND Phạm Thanh Ngân là phi công tiêm kích xuất sắc của Không quân nhân dân Việt Nam, từng bắn rơi 8 máy bay Mỹ, yểm hộ đồng đội bắn rơi 8 chiếc khác và là một trong 16 phi công Việt Nam được công nhận danh hiệu Ace. Sau chiến tranh, ông tiếp tục giữ nhiều cương vị quan trọng như Tư lệnh Quân chủng Không quân, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, để lại dấu ấn sâu sắc trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị.
Thượng tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Thanh Ngân là một trong những gương mặt tiêu biểu của Không quân nhân dân Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ hiện đại. Cuộc đời ông là hành trình đặc biệt, từ một người lính pháo binh, trở thành phi công tiêm kích xuất sắc, rồi đảm nhiệm nhiều trọng trách lớn trong quân đội, trong đó có cương vị Tư lệnh Quân chủng Không quân và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Ở mỗi chặng đường, ông đều để lại dấu ấn của bản lĩnh, trí tuệ, lòng trung thành và tinh thần tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân.
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân sinh ngày 18 tháng 4 năm 1939 tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Quê gốc của ông ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Tuổi trẻ của ông gắn với những năm tháng đất nước còn nhiều gian khó, khi khát vọng độc lập, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc trở thành lý tưởng sống của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam. Tháng 6 năm 1957, ông tham gia hoạt động Đoàn Thanh niên tại địa phương, sớm rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và trách nhiệm với cộng đồng.
Ngày 21 tháng 3 năm 1959, Phạm Thanh Ngân nhập ngũ và được biên chế về trung đội chỉ huy thuộc Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Pháo binh 374, Sư đoàn 351. Từ những ngày đầu quân ngũ, ông đã được rèn luyện trong môi trường kỷ luật nghiêm túc của quân đội. Những năm tháng trong lực lượng pháo binh là nền tảng quan trọng giúp ông hình thành tác phong chính quy, tinh thần chịu khó, khả năng quan sát, tính chính xác và bản lĩnh của người lính trước nhiệm vụ.
Tháng 4 năm 1961, trong một đợt kiểm tra thể lực tuyển chọn phi công, Phạm Thanh Ngân trúng tuyển và được cử đi huấn luyện tại Trường Dự khóa bay thuộc Cục Không quân ở sân bay Cát Bi, Hải Phòng. Đây là bước ngoặt lớn trong cuộc đời quân ngũ của ông. Từ một người lính pháo binh, ông bước sang con đường của người lính bầu trời, nơi đòi hỏi không chỉ sức khỏe, trí tuệ, kỹ thuật mà còn cần lòng dũng cảm và bản lĩnh thép.
Tháng 10 năm 1961, ông được cử sang Liên Xô học lái máy bay MiG-17. Trong thời gian học tập ở nước bạn, ngày 8 tháng 12 năm 1963, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng, khẳng định sự trưởng thành về lý tưởng, phẩm chất chính trị và trách nhiệm của người chiến sĩ trẻ. Tháng 10 năm 1964, ông trở về nước và trở thành phi công lái MiG-17 tại Trung đoàn Không quân 921, một trong những đơn vị nòng cốt của Không quân nhân dân Việt Nam.
Tháng 8 năm 1965, Phạm Thanh Ngân tiếp tục được cử sang Liên Xô học chuyển loại lái máy bay MiG-21. Tháng 6 năm 1966, ông về nước và lần lượt giữ các chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng lái máy bay MiG-21 tại Đoàn Không quân Sao Đỏ. Từ đây, ông trực tiếp bước vào những trận không chiến ác liệt, đối đầu với không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc. Đó là giai đoạn mà mỗi chuyến bay đều có thể là một lần đi vào sinh tử, nhưng cũng là nơi tài năng, bản lĩnh và lòng yêu nước của người phi công được thử thách rõ nhất.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Phạm Thanh Ngân là một trong những phi công chiến đấu xuất sắc nhất của Không quân Việt Nam. Ông từng xuất kích chiến đấu trên 100 lần, trực tiếp bắn rơi 8 máy bay của Không quân Hoa Kỳ và yểm hộ cho đồng đội bắn rơi 8 máy bay địch khác. Với thành tích đặc biệt ấy, ông trở thành một trong 16 phi công Việt Nam được công nhận danh hiệu Ace, danh hiệu dành cho những phi công bắn hạ từ 5 máy bay đối phương trở lên.
Chiến công đầu tiên của Phạm Thanh Ngân là bắn rơi một máy bay không người lái ở độ cao cực thấp 300 mét vào ngày 14 tháng 12 năm 1966. Sau đó, ông tiếp tục lập công với 3 lần bắn rơi máy bay F-4, loại máy bay được mệnh danh là “Con ma”; 3 lần bắn rơi máy bay F-105, được gọi là “Thần sấm”; và 1 lần bắn rơi máy bay RF-101. Mỗi chiến công là kết quả của sự phối hợp giữa kỹ thuật bay điêu luyện, khả năng phán đoán chính xác, tinh thần dũng cảm và ý chí quyết thắng của người phi công Việt Nam.
Điều đặc biệt là 2 trong số những chiếc MiG-21 mà Phạm Thanh Ngân từng điều khiển, mang số hiệu 4324 và 4326, đều là những máy bay có thành tích bắn hạ đối phương rất cao. Chiếc 4324 có 14 lần bắn hạ máy bay địch, còn chiếc 4326 có 13 lần. Đây cũng là những máy bay gắn với nhiều phi công đạt đẳng cấp Ace, trở thành biểu tượng đặc biệt trong lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam.
Ngày 18 tháng 6 năm 1969, Phạm Thanh Ngân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi đang là Đại úy, Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Không quân 921. Danh hiệu cao quý ấy là sự ghi nhận xứng đáng đối với những chiến công xuất sắc của ông trên bầu trời lửa đạn. Nhưng đằng sau danh hiệu ấy không chỉ là số máy bay địch bị bắn rơi, mà còn là tinh thần chiến đấu quả cảm, sự sáng tạo trong chiến thuật, tình đồng đội và lòng trung thành tuyệt đối với nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Tổ quốc.
Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân có một niềm vinh dự đặc biệt là 4 lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những kỷ vật của ông phần lớn gắn với Bác Hồ, trong đó có 8 Huy hiệu Bác Hồ được trao tặng vì 8 lần bắn rơi máy bay địch. Với người phi công chiến đấu, mỗi Huy hiệu Bác không chỉ là phần thưởng cho một chiến công, mà còn là lời động viên thiêng liêng, là niềm tin của Bác gửi gắm vào những người lính đang ngày đêm bảo vệ bầu trời miền Bắc.
Năm 1968, trong lần gặp mặt anh hùng, chiến sĩ thi đua, thanh niên xung phong tiêu biểu có nhiều thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở hai miền Nam - Bắc tại Phủ Chủ tịch, Phạm Thanh Ngân vinh dự được gặp Bác Hồ. Bác trực tiếp hỏi chuyện và căn dặn các chiến sĩ phải chăm học tập, rèn luyện hơn nữa; càng học tập thì càng tiến bộ, càng tiến bộ thì đánh địch càng giành thắng lợi. Lời dạy ấy in sâu trong tâm trí ông suốt cuộc đời, trở thành phương châm cho cả quá trình chiến đấu, học tập, chỉ huy và lãnh đạo sau này.
Sau thời gian chiến đấu, Phạm Thanh Ngân tiếp tục được cử đi học tập, bồi dưỡng ở các học viện quân sự lớn. Tháng 9 năm 1970, ông sang Liên Xô học tại Học viện Không quân Gagarin. Tháng 9 năm 1975, ông về nước. Tháng 6 năm 1977, ông được giao làm Sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 371 thuộc Quân chủng Không quân. Tháng 8 năm 1978, ông học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, rồi trở lại giữ chức Sư đoàn phó, sau đó là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371.
Tháng 8 năm 1982, lần thứ tư ông sang Liên Xô học tập tại Học viện Bộ Tổng tham mưu Voroshilov. Tháng 7 năm 1984, ông về nước và được giao giữ chức Phó tham mưu trưởng thứ nhất Quân chủng Không quân, phụ trách tác chiến. Những năm tháng học tập trong và ngoài nước đã giúp ông hệ thống hóa kinh nghiệm chiến đấu, nâng cao tư duy chiến lược, khả năng chỉ huy, tham mưu và tổ chức lực lượng. Từ một phi công chiến đấu trực tiếp, ông từng bước trở thành cán bộ chỉ huy cấp cao của Không quân nhân dân Việt Nam.
Tháng 9 năm 1986, Phạm Thanh Ngân được thăng chức Phó tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân. Tháng 6 năm 1988, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng. Tháng 4 năm 1989, ông được bổ nhiệm giữ chức Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân chủng Không quân. Trên cương vị này, ông tiếp tục đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và trưởng thành của Không quân nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới.
Tháng 9 năm 1991, Phạm Thanh Ngân được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa VII với cương vị Tư lệnh Quân chủng Không quân. Tháng 6 năm 1992, ông được thăng quân hàm Trung tướng. Tháng 1 năm 1996, ông tiếp tục được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII. Tháng 5 năm 1996, ông được đề bạt giữ chức Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 7 năm 1997, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa X. Tháng 12 năm 1997, ông được bầu vào Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII.
Từ tháng 1 năm 1998, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân được phân công làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 11 năm 1999, ông được thăng quân hàm Thượng tướng. Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với ông, đây là nguyên tắc cơ bản, là vấn đề có ý nghĩa sống còn trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng.
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân nhấn mạnh rằng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là làm cho quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân và dân tộc. Điều đó trước hết là xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; đồng thời bảo đảm quân đội vững vàng trước những diễn biến phức tạp trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Quan điểm ấy thể hiện tầm nhìn của một người vừa trải qua chiến đấu, vừa am hiểu sâu sắc vai trò của công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội.
Trong thời kỳ ông giữ cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, công tác giáo dục chính trị trong quân đội được quan tâm đổi mới theo hướng căn bản, toàn diện. Việc giáo dục lý luận chính trị trong các nhà trường được gắn với hoạt động thực tiễn công tác Đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Nhờ đó, các hoạt động chính trị trong toàn quân phát huy được sức mạnh tổng hợp, góp phần bảo đảm cho quân đội luôn vững vàng về chính trị, là chỗ dựa đáng tin cậy của Đảng và nhân dân.
Đặc biệt, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 lần 2; triển khai sâu rộng cuộc vận động xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao. Ông cũng chú trọng đổi mới công tác dân vận, quản lý, giáo dục bộ đội giữ nghiêm kỷ luật quân đội, củng cố mối quan hệ máu thịt quân dân. Những chỉ đạo ấy góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.
Tháng 5 năm 2001, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân thôi giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và được giao phụ trách Ban Tổng kết chiến lược về Quân sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị. Đây là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn, tư duy chiến lược và sự am hiểu sâu sắc về quân sự, quốc phòng. Với bề dày chiến đấu, chỉ huy và lãnh đạo, ông tiếp tục đóng góp trí tuệ cho việc tổng kết thực tiễn, phát triển tư duy bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Nhìn lại cuộc đời Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, có thể thấy nổi bật lên hình ảnh một người lính luôn biết chuyển hóa trải nghiệm chiến đấu thành kinh nghiệm lãnh đạo, biến lòng dũng cảm trên bầu trời thành bản lĩnh chính trị trong công tác xây dựng quân đội. Khi là phi công, ông chiến đấu bằng trí tuệ, kỹ năng và lòng quả cảm. Khi là người chỉ huy, ông xây dựng lực lượng bằng kinh nghiệm, tầm nhìn và sự sâu sát. Khi làm công tác chính trị, ông đặc biệt coi trọng xây dựng bản lĩnh, niềm tin, kỷ luật và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.
Với nhiều công lao, cống hiến, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng, 8 Huy hiệu Hồ Chí Minh, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng cùng nhiều danh hiệu và phần thưởng khác. Những phần thưởng ấy là sự ghi nhận đối với một cuộc đời cống hiến bền bỉ, trọn vẹn cho quân đội và đất nước.
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân là biểu tượng đẹp của người lính Không quân Việt Nam: dũng cảm trong chiến đấu, nghiêm túc trong học tập, sắc sảo trong chỉ huy và sâu sắc trong công tác chính trị. Từ buồng lái MiG trên bầu trời chiến tranh đến cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông luôn giữ vững tinh thần của người cộng sản, người lính Bộ đội Cụ Hồ, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.
Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một hành trình giàu ý nghĩa: từ người lính pháo binh đến phi công Ace, từ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đến nhà lãnh đạo chính trị cấp cao của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông đã góp phần viết nên những trang sử hào hùng của Không quân nhân dân Việt Nam, đồng thời đóng góp quan trọng vào việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.



