THƯỢNG TƯỚNG PHẠM THANH NGÂN – TỪ PHI CÔNG ÁT CHỦ BÀI ĐẾN NGƯỜI CHỈ HUY CẤP CAO CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam đã ghi nhận nhiều phi công xuất sắc làm nên những chiến công vang dội trên bầu trời Tổ quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong số những người anh hùng ấy, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân là một gương mặt tiêu biểu. Ông không chỉ là phi công tiêm kích xuất sắc với thành tích bắn rơi 8 máy bay Mỹ, mà còn là nhà lãnh đạo quân sự cấp cao, từng giữ cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phạm Thanh Ngân sinh ngày 18 tháng 4 năm 1939 tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên (nay là xã Kha Sơn, tỉnh Thái Nguyên), trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Quê gốc của ông ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Tuổi thơ của ông gắn liền với những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, hun đúc nên ý chí cống hiến và khát vọng bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 21 tháng 3 năm 1959, chàng thanh niên Phạm Thanh Ngân nhập ngũ, trở thành chiến sĩ trinh sát thuộc lực lượng pháo binh. Với thể lực tốt, ý chí kiên cường và phẩm chất nổi bật, ông được tuyển chọn vào lực lượng không quân – một binh chủng còn rất non trẻ của Quân đội nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ.
Năm 1961, ông được cử sang Liên Xô đào tạo lái máy bay tiêm kích MiG-17. Trong thời gian học tập tại nước bạn, ông luôn thể hiện tinh thần học tập nghiêm túc, nhanh chóng làm chủ kỹ thuật hàng không hiện đại. Năm 1964, sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, ông trở về nước và được biên chế vào Trung đoàn Không quân 921 – đơn vị tiêm kích đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam.
Để đáp ứng yêu cầu chiến đấu ngày càng cao, năm 1965 ông tiếp tục được cử sang Liên Xô học chuyển loại máy bay MiG-21 – loại tiêm kích hiện đại nhất của không quân Việt Nam thời điểm đó. Sau khi trở về nước năm 1966, ông trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời miền Bắc.
Từ năm 1966 đến năm 1968, Phạm Thanh Ngân đã lập nên những chiến công xuất sắc trong các trận không chiến với Không quân Hoa Kỳ. Với lòng dũng cảm, sự mưu trí và kỹ năng điều khiển máy bay điêu luyện, ông trực tiếp bắn rơi 8 máy bay Mỹ và cùng đơn vị lập thêm nhiều chiến công quan trọng.
Ngày 4 tháng 5 năm 1967, ông bắn hạ chiếc F-105 trên bầu trời Tam Đảo. Tiếp đó là những trận đánh xuất sắc vào các ngày 29 tháng 7, 16 tháng 9 và 18 tháng 11 năm 1967, góp phần làm nên truyền thống vẻ vang của lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam.
Những chiến công của ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và ghi nhận. Trong suốt thời gian chiến đấu, ông vinh dự được Bác Hồ tặng 8 Huy hiệu của Người. Cuối năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục tặng ông một chiếc đồng hồ như phần thưởng cho những thành tích xuất sắc trong chiến đấu.
Ngày 18 tháng 6 năm 1969, khi đang là Đại úy, Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Không quân 921, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là sự ghi nhận cao quý dành cho một phi công đã góp phần khẳng định sức mạnh và bản lĩnh của Không quân Việt Nam trước đối thủ có ưu thế vượt trội về trang bị và kỹ thuật.
Một dấu ấn đặc biệt trong sự nghiệp chiến đấu của ông là việc điều khiển hai chiếc MiG-21 mang số hiệu 4324 và 4326. Đây đều là những chiếc máy bay huyền thoại của Không quân nhân dân Việt Nam với số lần lập công cao nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam.
Sau chiến tranh, Phạm Thanh Ngân tiếp tục được đào tạo tại các học viện quân sự hàng đầu của Liên Xô. Với nền tảng thực tiễn chiến đấu phong phú cùng trình độ lý luận quân sự sâu sắc, ông nhanh chóng trưởng thành qua nhiều cương vị lãnh đạo quan trọng.
Ông từng giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371, Phó Tham mưu trưởng rồi Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân. Năm 1989, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân chủng Không quân, trực tiếp chỉ đạo xây dựng lực lượng không quân trong giai đoạn đất nước đổi mới.
Với năng lực lãnh đạo và uy tín cao trong quân đội, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII và khóa VIII. Năm 1997, ông được bầu vào Bộ Chính trị – cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa hai kỳ Đại hội.
Từ năm 1998 đến năm 2001, ông giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này, ông có nhiều đóng góp trong công tác xây dựng Đảng trong quân đội, giáo dục chính trị tư tưởng và củng cố sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân.
Tháng 11 năm 1999, ông được phong quân hàm Thượng tướng. Đây là sự ghi nhận đối với những đóng góp to lớn của ông trong cả chiến đấu và xây dựng quân đội.
Năm 2002, sau hơn bốn thập kỷ phục vụ Tổ quốc, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân nghỉ hưu theo chế độ. Tuy nhiên, hình ảnh người phi công anh hùng với tám chiến công trên bầu trời miền Bắc và người lãnh đạo tận tụy của quân đội vẫn luôn được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ kính trọng và noi theo.



