Anh hùng Lực lượng vũ trang

Thượng tướng Trần Sâm trong ký ức người thân (1)

Ông sinh ngày 5-4-1918, trong một gia đình nông dân, thợ thủ công, hiếu học và nền nếp. Quê hương ông soi bóng bên bờ sông Vĩnh Định trong xanh. Đó là làng Duân Kinh, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Song thân của ông là cụ Trần Tước và cụ Lê Thị Cun. Cụ Trần Tước có 5 người con trai: Hầu (Sâm), Khanh, Phán, Thừa, Thống. Xuất thân từ tầng lớp bình dân, do muốn vượt qua cảnh bị áp bức, nghèo khổ, cũng như nhiều gia đình khác, khi đặt tên các con, các cụ đã ký thác vào đó một kỳ vọng v

Hải Phòng09/02/2026Sưu tầm (Chi đoàn tổ dân phố Hà Nhuận 4)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thời trẻ, ông Trần Sâm học tiểu học ở làng Duân Kinh, trường phủ (huyện) Triệu Phong rồi Trường Kỹ nghệ thực hành (còn gọi là Trường Bách nghệ) ở Huế. Là một thanh niên giác ngộ cách mạng từ rất sớm trong phong trào học sinh, năm 20 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng, làm giao liên bí mật vận chuyển tài liệu và đưa đón cán bộ của Đảng trên tuyến đường sắt từ miền Trung vào Sài Gòn. Tháng 5-1939, do có người cùng hoạt động phản bội khai báo, nên ông bị địch bắt tra tấn, thậm chí treo lên xà nhà hành hạ dã man. Nhưng ông một lòng trung kiên, chí cốt, không khuất phục.

Chính quyền thực dân xử án ông tại Nha Trang, lúc ấy ông mới 21 tuổi. Giữa đông đảo người chứng kiến phiên tòa, trước vành móng ngựa, ông đã dõng dạc tố cáo sự áp bức bóc lột của chế độ thực dân đế quốc, đanh thép tuyên bố quyết tâm chí hướng làm cách mạng của một người cộng sản. Tòa án thực dân kết án ông 5 năm tù giam và đưa đi lưu đày ở nhà lao Buôn Ma Thuột. Hồi đó, cùng tù đày với ông tại Buôn Ma Thuột có nhiều chiến sĩ cách mạng: Hồ Tùng Mậu, Trương Văn Lĩnh, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Hoàng Anh, Chu Văn Biên, Nguyễn Côn, Nguyễn Chánh, Trần Văn Quang, Ngô Đức Đệ, Trần Văn Bành, Nguyễn Đình Khiếng (Lê Nam Thắng), Đoàn Khuê, Trần Thanh Từ,… và nhiều người khác nữa. Trong số tù chính trị bị giam cầm, lưu đày tại đây có nhiều người bị bắt trong thời kỳ thoái trào của Xô viết Nghệ Tĩnh. Trong lao tù, ông kiên quyết tham gia phong trào đấu tranh trước sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù.

Ông thường kể, trong nhà tù đế quốc, chi bộ Đảng vẫn tranh thủ mọi điều kiện tổ chức học tập. Người giảng về lý luận chính trị là ông Hồ Tùng Mậu. Người dạy về quân sự và võ thuật là ông Trương Văn Lĩnh - người từng tốt nghiệp Trường Võ bị Hoàng Phố (Trung Quốc), là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, hoạt động trong hàng ngũ Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch, giữ chức Cảnh sát trưởng Quảng Châu, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch phát hiện bắt trao cho thực dân Pháp đưa về Việt Nam giam giữ.

Năm 1943, ông mãn hạn tù. Hôm ấy, tên quản ngục người Pháp tên là Mốt-xít gọi ông lên nói: “Mày được tha rồi đấy. Đừng có dại làm cộng sản nữa mà mất đầu. Thiếu gì việc để làm. Đi dạy học hoặc đi làm thợ chẳng hạn”. Chẳng thèm cãi lại nó, ông chỉ đáp: “Thế tôi được tự do rồi chứ?”, rồi lẳng lặng đi ra. Ra tù nhưng ông vẫn bị quản thúc ở quê. Sau một thời gian tìm bắt liên lạc, ông lại bí mật tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Kiến thức và kinh nghiệm học được trong tù đã giúp ông rất nhiều điều trong vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương.

Năm 1945, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở tỉnh Quảng Trị. Khi tỉnh Quảng Trị giành được chính quyền, Ủy ban Kháng chiến tỉnh thành lập, do ông Trần Hữu Dực làm Chủ tịch, ông Đặng Thí làm Phó chủ tịch, ông Trần Sâm được cử làm Ủy viên. Bố mẹ đặt tên ông là Trần Hầu. Thời kỳ hoạt động cách mạng trước năm 1945, ông lấy tên là Trần Bá, Trần Sam. Năm 1945, khi tham gia Ủy ban Kháng chiến tỉnh Quảng Trị có hai người tên Sam: Nguyễn Bá Sam và Trần Sam. Để thuận tiện trong giao tiếp, tổ chức đề nghị ông thêm dấu đổi chữ “a”, thành chữ “â” thành Sâm. Và danh xưng Trần Sâm gắn với ông đến trọn đời.

Ngày 23-8-1945, tại Quảng Trị, Chi đội Giải phóng quân Thiện Thuật thành lập - sau đó đổi tên thành Trung đoàn 95. Đầu năm 1946, ông được giao giữ chức Chính ủy Trung đoàn cùng ông Hùng Việt (tức Đinh Huy Phan) Trung đoàn trưởng chỉ huy chiến đấu bảo vệ Quảng Trị.

Ngày 25-1-1947, quân Pháp đánh chiếm đèo Vân Thủy rồi tràn vào chiếm vùng Cùa. Trước lực lượng vượt trội của quân Pháp, bộ đội ta với trang bị vũ khí thô sơ, lại chưa quen trận mạc, Tiểu đoàn 14, Trung đoàn 95 đã bỏ Cùa chạy về phía sau. Sáng 8-3-1947, một rủi ro đã xảy ra trong khi Trung đoàn trưởng Hùng Việt trực tiếp hướng dẫn ba chiến sĩ chế biến quả đạn 75mm thành quả mìn diệt địch, quả đạn nổ trên tay khiến cả bốn người đều hy sinh. Để giữ bí mật với địch và không làm nao núng tinh thần bộ đội, ông Trần Sâm đã tập chữ ký của ông Hùng Việt khi ra lệnh cho các đơn vị. Cả mấy tháng trời, kẻ địch không hề biết và cả Trung đoàn đều tin là Trung đoàn trưởng Hùng Việt vẫn đang chỉ huy. Sau đó, cấp trên quyết định giao ông giữ chức Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 95 chỉ huy chiến đấu ở thị xã Quảng Trị và Mặt trận Đường 9.

Tiếp đó, năm 1948, cấp trên điều động ông vào Thừa Thiên giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, tham gia Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên. Trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, ông đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu nhiều trận. Đặc biệt là trận Hội Mít Lăng Cô, diễn ra ngày 12-1-1949, do ông trực tiếp chỉ huy phục kích tiêu diệt gọn cả đoàn tàu địch, bắt tù binh, thu vũ khí. Trận đánh đó có sức cổ vũ mạnh mẽ quân dân toàn Liên khu 4. Sau này, được Từ điển Quân sự Việt Nam xếp vào những trận đánh tiêu biểu trong thời kỳ chống Pháp.

Tháng 10-1949, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Mặt trận Bình Trị Thiên - Trung Lào do ông Hà Văn Lâu làm Tư lệnh, ông Trần Quý Hai làm Chính ủy và ông Trần Sâm làm Phó tư lệnh.

Tháng 12-1950, khi mới 32 tuổi, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4. Năm 1953, cấp trên điều động ông lên Bộ Tổng Tham mưu, lúc này đang ở Chiến khu Việt Bắc, giữ chức Cục trưởng Cục Quân lực. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Cục trưởng Cục Quân lực kiêm Trưởng ban Quân lực Mặt trận trong Sở Chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Năm 1959 của Quân đội, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1960, ông được Nhà nước bổ nhiệm giữ chức Phó tổng Tham mưu trưởng. Tiếp đó, từ năm 1963 đến 1965, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó tổng Tham mưu trưởng, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Có thời kỳ là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ông còn được cấp trên phân công kiêm Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương. Khi Bộ Quốc phòng thành lập Cục Nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự (sau đổi tên là Viện Kỹ thuật Quân sự và hiện nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự), ông được giao kiêm Cục trưởng. Trong kháng chiến chống Mỹ, ngoài thời gian tham gia trực chỉ huy tác chiến ở Bộ Tổng Tham mưu, ông là người giúp Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu trưởng về tổ chức biên chế lực lượng và bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho Quân đội.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ông đã nhiều lần tham gia Đoàn Chính phủ ta đi Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em ký kết Hiệp định viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự. Năm 1974, ông được Chủ tịch nước ký quyết định thăng quân hàm Trung tướng. Từ năm 1976 đến năm 1982, ông được Trung ương điều động giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư. Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1976), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Cuối năm 1982, ông trở lại Quân đội với cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Đến năm 1986, ông được thăng quân hàm Thượng tướng. Năm 1996, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Sau khi nghỉ hưu, ông thường xuyên quan tâm theo dõi, đau đáu tình cảm với quê hương. Ông đã gom góp dành dụm tiền lương hưu để tham gia Quỹ Khuyến học của địa phương; mua tặng bà con xã nhà: Máy phát điện, hệ thống truyền thanh, bộ máy vi tính, tủ sách, giống cây trồng. Ông cùng anh em cán bộ, nhân viên kỹ thuật ngồi xe tải đi từ Hà Nội vượt hơn 600 trăm cây số chở máy phát điện, hệ thống truyền thanh về lắp đặt cho xã nhà.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn