Anh hùng Lực lượng vũ trang

Thượng tướng Trần Văn Quang – Vị tướng tài năng, đức độ

Thượng tướng Trần Văn Quang – Vị tướng tài năng, đức độ

Lạng Sơn26/01/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người dân Nghi Lộc quê tôi rất ngưỡng mộ và tự hào về Thượng tướng Trần Văn Quang. Thân phụ Thượng tướng Trần Văn Quang là cụ Trần Văn Năng (vẫn gọi là cụ Hàn Dung) - một nhà Nho nghèo yêu nước, có mấy người con trai tham gia cách mạng. Người con cả là Trần Văn Tăng tham gia sáng lập Đảng Tân Việt - một tổ chức cách mạng đầu thế kỷ XX. Người con thứ 3 là Trần Văn Cung là một trong 7 đảng viên của Chi bộ đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập tại số nhà 5D, Hàm Long - Hà Nội. Hai anh em Trần Văn Quang, Trần Văn Bành tham gia cách mạng từ rất sớm, bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Buôn Ma Thuột trước năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông Trần Văn Cung là Ủy viên Thường trực Quốc hội khóa 1. Sau này, cả ông Trần Văn Quang và ông Trần Văn Bành đều trở thành cán bộ cao cấp của Quân đội.Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, tôi là chiến sĩ rồi qua chiến đấu trưởng thành lên cán bộ phân đội ở chiến trường Trị - Thiên - Huế. Khi ấy ông Trần Văn Quang là Bí thư Khu ủy, Bí thư Quân khu ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên. Ở Quân khu Trị Thiên ngày đó, mọi người đều kính trọng gọi ông với biệt danh Bảy Tiến. Được biết, đó là tên ông dùng từ năm 1961 khi vào chiến trường miền Nam. Dù không được trực tiếp gặp, nhưng hằng ngày cán bộ, chiến sĩ đơn vị chúng tôi luôn nhận được từ vị Tư lệnh kiêm Chính ủy sự lãnh đạo, chỉ huy kịp thời, sáng suốt, quyết đoán trong chiến đấu.

Đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968, trung đoàn chúng tôi đã cùng các đơn vị bạn tấn công giải phóng và kiên cường bám trụ thành phố Huế trong suốt 26 ngày đêm dưới sự phản kích điên cuồng quyết liệt của địch. Ngay từ thời bấy giờ tôi nhiều lần được nghe các thủ trưởng đơn vị nói rằng, ông Trần Văn Quang là một vị tướng văn võ song toàn, đã đảm nhiệm nhiều trọng trách trong Quân đội nên có rất nhiều kinh nghiệm cầm quân, trận mạc... Ông từng là Chính ủy Quân khu 4 từ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, Cục trưởng Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu) bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi làm Phó tổng Tham mưu trưởng, ông được cử vào chiến trường miền Nam từ rất sớm, giữ chức Ủy viên Trung ương Cục, Trưởng ban Quân sự Miền…

Tôi được tiếp xúc làm việc với Thượng tướng Trần Văn Quang trong thời kỳ từ năm 1982 đến năm 1988. Là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ngoài những trọng trách do Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao, Thượng tướng còn đảm nhiệm chỉ đạo công tác chính sách trong Quân đội. Hồi đó, Cục Chính sách trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Mới ngoài 30 tuổi, với cương vị là Phó phòng, rồi Trưởng phòng Nghiên cứu Tổng hợp Cục Chính sách, tôi thường được giao nhiệm vụ báo cáo công tác trực tiếp với Thượng tướng Trần Văn Quang hoặc lĩnh hội ý kiến chỉ đạo của ông đối với Cục Chính sách. Nhiều lần tôi được “cắp cặp” tháp tùng ông đi kiểm tra các đơn vị, địa phương hoặc đi dự các hội nghị chuyên đề ở các bộ ngành và Chính phủ. Vừa coi tôi là cấp dưới, vừa như là con cháu, ông thường chỉ bảo nhiều điều rất cụ thể trong công việc và cuộc sống…

Nhiều năm được tiếp xúc làm việc với Thượng tướng Trần Văn Quang, tôi cảm nhận ông là một vị tướng tài năng, đức độ, văn võ song toàn. Ông vừa là nhà chính trị, nhà quân sự giỏi, vừa là người chỉ đạo sáng suốt, sắc sảo về nhiều mặt ở tầm chiến lược - trong đó có công tác chính sách.

Mỗi lần đi cơ sở, ông rất chú ý tìm hiểu, nghiên cứu, nắm bắt, phát hiện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn để chỉ đạo giải quyết chính xác, chu đáo các chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội.

Trong cuộc sống đời thường, ông là người nhân hậu, trọng tình, luôn toát lên sự kết hợp hài hòa giữa phẩm chất của người cán bộ cách mạng với cốt cách truyền thống văn hóa. Trong quan hệ, ông là người khảng khái, bộc trực, chân thành. Khi cấp dưới làm việc chưa đúng, ông thẳng thắn phê bình, có lúc khá gay gắt. Nhưng mọi người đều nhận ra rằng, sự gay gắt đó là có lý và vì sự tiến bộ của mình và tập thể, bởi bên trong đó ẩn chứa một tình thương yêu sâu nặng. Tôi không bao giờ quên những kỷ niệm về ông - đó là những bài học sâu sắc, những điều ông căn dặn chỉ bảo tôi trong công tác.

Cuối năm 1982, Cục trưởng Cục Chính sách giao tôi lên báo cáo ông dự thảo Báo cáo Công tác chính sách của Bộ Quốc phòng trình Chính phủ, do Cục chuẩn bị. Báo cáo dài 15 trang đánh máy, khổ A4.

Thoạt đầu, ông cầm bản báo cáo trên tay xem lướt rất nhanh một lượt, rồi nói:

- Cháu đọc đi.

Tôi mới đọc được 3 trang, thì ông đột ngột đứng dậy, nét mặt không bằng lòng. Ông nói:

- Viết thế là chưa được. Dài dòng văn tự. Thôi! Để lại tài liệu, về đi.

Tôi vừa về đến Cục, thì Cục trưởng Lê Tiến Phục đã sốt sắng hỏi:

- Cháu thông qua xong rồi à? Nhanh vậy.

Tôi buồn bã nói:

- Dạ, không phải thế ạ. Bác Quang nghe chưa xong, đã “đuổi” cháu về.

Hiểu được tâm trạng của tôi, Cục trưởng động viên:

- Không sao đâu. Cùng làm việc với nhau nhiều năm chú biết, Thủ trưởng Quang là người thẳng thắn bộc trực thế đấy. Cái gì không bằng lòng là “cụ” nói ngay, nhưng không hề để bụng đâu.

Khoảng một giờ sau, điện thoại ở Trực ban Cục đổ chuông. Trực ban nói với tôi, Thủ trưởng Quang gọi anh lên ngay. Tôi nghĩ, lần này thế nào cũng bị ông “quạt” một trận.

Nhưng khi tôi vừa bước vào phòng, ông đứng dậy vừa rót nước cho tôi vừa ân cần nói:

- Cháu uống đi. Bác đã đọc và sửa xong rồi. Phần sau viết tốt đấy. “Chữ, nghĩa” quan trọng lắm. Bản báo cáo như một bài văn ấy, phải có mở đầu, thân bài, kết luận. Đoạn đầu cháu phải viết gọn lại…

Thật khó diễn tả được hết niềm vui của tôi khi được nghe thủ trưởng nhận xét như thế. Nhận tài liệu từ tay ông, tôi xin phép ra về. Quãng đường từ nhà “Con Rồng” về Cục khoảng 500m, tôi đi thật nhanh về phòng, khép cửa lại rồi mở bản báo cáo ra xem cứ như cậu học trò đọc lại bài thi của mình với lời phê của thầy giáo vậy. Thật bất ngờ, bản báo cáo được ông sửa rất cẩn thận từ trang đầu đến trang cuối. Chữ viết của ông rất đẹp và sang. Ông không góp ý chung chung mà thể hiện cụ thể, chính kiến rõ ràng. Có những câu ông chỉ đổi một từ, thay một cụm chữ là rõ hẳn về ngữ nghĩa. Nhất là đoạn mở đầu, ông gợi ý ra ngoài lề cho chúng tôi chuẩn bị lại, thật là dễ hiểu, dễ viết. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần những câu ông sửa. Càng đọc, càng ngẫm nghĩ, càng kính phục. Ông không chỉ là người nêu ý tưởng, chỉ đạo nội dung mà còn là người thể hiện văn bản rất sắc sảo, chi tiết, cụ thể, văn phong trong sáng, mạch lạc. Sau này, cứ mỗi lần đặt bút viết là tôi nhớ những lời ông căn dặn, nhớ những câu, những chữ mà ông đã sửa.

Nguồn tham khảoXem video gốc tại: https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/thuong-tuong-tran-van-quang-vi-tuong-tai-nang-duc-do-1020408
Bài viết do Ban Biên tập Đề án tổng hợp, biên soạn từ nguồn công khai, phục vụ mục đích giáo dục — tri ân phi lợi nhuận.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn