Anh hùng Lực lượng vũ trang

THƯỢNG TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ

THƯỢNG TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ

Đồng Tháp24/08/2026Đoàn phường Quy Nhơn Nam (Đoàn phường Quy Nhơn Nam)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá Thượng tướng Trần Văn Trà là một người cộng sản kiên trung, lúc gặp khó khăn càng tỏ rõ bản lĩnh vững vàng trung thành với Đảng, là một tướng lĩnh tài ba của quân đội ta. Cuộc đời hoạt động cách mạng và chiến đấu của đồng chí là một tấm gương cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ.

TIỂU SỬ THƯỢNG TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ

Đồng chí Trần Văn Trà, tên thật là Nguyễn Chấn, bí danh Ba Trà, sinh năm 1919, tại xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

Sớm giác ngộ cách mạng, những năm từ 1936 đến 1938, đồng chí gia nhập Đoàn Thanh niên Dân chủ Huế và tham gia phong trào học sinh yêu nước.

Năm 1938, đồng chí trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương ở tuổi 19. Từ năm 1938 đến năm 1945, đồng chí nhiều lần bị thực dân Pháp bắt, giam cầm và tra tấn dã man. Đến tháng 8/1945, Chính phủ Trần Trọng Kim quyết định thả tù chính trị, đồng chí mới được trả tự do. Sau đó, đồng chí tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn.

Khi thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ, đồng chí Trần Văn Trà gia nhập du kích, chiến đấu ở các mặt trận: Cầu Bông, Bà Chiểu, Phú Nhuận. Khi mặt trận Sài Gòn bị vỡ, đồng chí bàn bạc với Xứ ủy và Tỉnh ủy Gia Định thành lập Giải phóng quân Liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Đây là đơn vị vũ trang đầu tiên ở Nam Bộ do Đảng trực tiếp tổ chức và lãnh đạo. Tháng 9/1946, đồng chí Trần Văn Trà được chỉ định là Khu bộ trưởng Khu 8, đồng chí xây dựng vùng Đồng Tháp Mười thành căn cứ hiểm yếu và vững chắc, về sau là nơi đứng chân lâu dài của nhiều cơ quan, đơn vị của Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến – hành chính Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1949, đồng chí được bổ nhiệm Tư lệnh, kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ năm 1950 đến năm 1951, đồng chí là Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu 7. Từ năm 1951 đến năm 1954, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh phó Nam Bộ, kiêm Tư lệnh Phân Liên khu miền Đông Nam Bộ.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, tháng 9/1954, đồng chí Trần Văn Trà nhận nhiệm vụ chỉ huy lực lượng tập kết ra miền Bắc. Những năm từ 1955 đến 1963, đồng chí trải qua các chức vụ Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam, kiêm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn, Giám đốc Học viện Quân chính, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương.

Quay trở lại chiến trường miền Nam, đồng chí Trần Văn Trà được chỉ định làm Ủy viên Quân ủy Miền, Phó Bí thư Quân ủy Miền, Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân sự Miền (tháng 10/1963 – tháng 11/1967), Phó Tư lệnh Bộ Chỉ huy Miền (Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam) (tháng 11/1967 – 1973), Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1974-1976), cùng đồng bào Nam Bộ trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm nên những chiến thắng vang dội ở Đất Cuốc, Phước Long, Bình Giã, Đồng Xoài, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968…

Trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Văn Trà, Chiến dịch Nguyễn Huệ giành được một số thắng lợi, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng vùng chiến lược rộng lớn nối với Đông Bắc Campuchia, Tây Nguyên và hậu phương miền Bắc.

Tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, đồng chí Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn Đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định, Chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh, đồng chí Trần Văn Trà là Phó Tư lệnh Chiến dịch. Trong trận quyết chiến mở “cánh cửa thép” Xuân Lộc, quân ta gặp nhiều khó khăn, Phó Tư lệnh Trần Văn Trà đích thân vượt sông Đồng Nai, đến Sở chỉ huy Quân đoàn 4 ở La Ngà để nắm tình hình. Đồng chí quyết định thay đổi cách đánh: Chỉ kiềm chế trực diện và đánh mạnh phía sau, chia cắt cứ điểm Xuân Lộc khỏi hậu phương Biên Hòa, Bà Rịa, Vũng Tàu. Theo phương án đó, quân ta đã buộc địch phải tháo chạy hỗn loạn khỏi Xuân Lộc. Ngày 30/4/1975, các cánh quân của các quân đoàn và tương đương đồng loạt tiến công vào Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Sau ngày giải phóng, trên cương vị Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định, đồng chí Trần Văn Trà đã ổn định trật tự thành phố, tuyên bố trả quyền công dân cho toàn bộ viên chức của chính quyền Sài Gòn, giúp đăng ký học tập cải tạo và trả quyền công dân cho hàng chục vạn sĩ quan và binh lính quân đội Sài Gòn, kịp thời cứu đói cho dân nghèo, đưa hàng triệu đồng bào trở về quê làm ăn sinh sống.

Từ năm 1976 đến 1978, đồng chí Trần Văn Trà đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh, kiêm Chính ủy Quân khu 7. Tháng 5/1978, đồng chí được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương. Năm 1982, đồng chí được nghỉ hưu theo chế độ.

Ghi nhận những công lao to lớn của đồng chí Trần Văn Trà, Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý:

• 2 Huân chương Hồ Chí Minh

• 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Ba

• Huân chương Chiến thắng hạng Nhất

• Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác.

NHỮNG CHIẾN CÔNG TIÊU BIỂU

NHÀ NGOẠI GIAO QUÂN SỰ TRONG BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ ""TRẠI ĐA-VÍT""

Tháng 1/1973, khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, đồng chí Trần Văn Trà được cử làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở Sài Gòn.

Theo lịch hẹn, ngày 28 tháng 1 năm 1973, Mỹ đón Phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tại Sở Chỉ huy, Bộ Tư lệnh Miền tổ chức ăn Tết trước để tiễn đồng chí Trần Văn Trà cùng phái đoàn lên đường vào thành phố Sài Gòn đấu tranh trực diện với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đòi chúng thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Paris.

Đồng thời, Bộ Tư lệnh Miền cử một tổ trinh sát bố trí ở Thiện Ngôn, nơi Mỹ đưa máy bay đến đón phái đoàn của ta. Theo quy định, cứ 15 phút thì tổ trinh sát ở Thiện Ngôn điện báo cáo về Bộ Tư lệnh một lần. Nhưng bất ngờ, một tốp máy bay phản lực đến đánh nhiều loạt bom ở điểm đón nhằm tiêu diệt phái đoàn của ta.

Sau khi bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn phản trắc bằng cách ném bom vào điểm hẹn Thiện Ngôn, Phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn tiếp tục tiến vào Trại Đa-vít (sân bay Tân Sơn Nhất) để thực thi nhiệm vụ ngoại giao quân sự, đấu tranh buộc đối phương phải thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản của Hiệp định Paris.

"

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn