Thượng tướng Trần Văn Trà - Vị tướng của thành đồng Tổ quốc
Cách đây 51 năm, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Thượng tướng Trần Văn Trà - người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi, đã ghi dấu ấn đậm nét trên cương vị Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Những quyết sách chiến lược của đồng chí Trần Văn Trà không chỉ góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mà còn để lại bài học sâu sắc về tư tưởng “gần dân, vì dân”.
Dấu chân người con đất Quảng ở Nam Bộ
Thượng tướng Trần Văn Trà (1919 - 1996), tên thật là Nguyễn Chấn, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Tịnh Long (nay là xã Tịnh Khê). Cha mẹ ông tham gia phong trào cách mạng giai đoạn 1930 - 1931. Tiếp nối truyền thống cách mạng của gia đình, chàng thanh niên Nguyễn Chấn cũng sớm tham gia phong trào cách mạng ngay từ khi còn là học sinh.
Năm 17 tuổi, khi đang theo học tại Trường Kỹ nghệ thực hành Huế, ông đã tham gia phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Đến năm 19 tuổi, Trần Văn Trà trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1939, ông bị địch bắt tại Sài Gòn và sau 5 tháng giam giữ, được trả tự do, nhưng bị quản thúc vô thời hạn ở Quảng Ngãi. Tháng 3/1941, ông trốn lên Đà Lạt rồi về Nha Trang, sau đó trở lại Sài Gòn bắt liên lạc với cách mạng. Tháng 11/1944, ông bị địch bắt lần thứ hai, giam tại Khám Lớn Sài Gòn.
Năm 1945, ông tham gia quân đội. Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông gắn bó mật thiết với chiến trường và nhân dân miền Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, với những cương vị khác nhau, ông đã góp phần lãnh đạo quân và dân miền Đông Nam Bộ xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng căn cứ kháng chiến, mở các chiến dịch để phối hợp với chiến trường toàn quốc, giành nhiều thắng lợi trong các trận đánh lớn. Sau ngày kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp (7/1954), ông tập kết ra Bắc và được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, kiêm Giám đốc Học viện Chính trị và Tòa án Quân sự Trung ương.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam ngày càng mở rộng, năm 1963, ông được Trung ương cử về Nam đảm nhiệm chức vụ Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó Bí thư Quân ủy Miền. Với tài thao lược quân sự, ông đã góp phần chỉ đạo chỉ huy làm nên những trận thắng vang dội như Đất Cuốc, Đồng Xoài, Phước Long, chiến dịch Bình Giã, Mậu Thân, Nguyễn Huệ... Năm 1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, Trung tướng Trần Văn Trà được cử làm trưởng đoàn đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, kiểm soát thi hành hiệp định do 4 bên tham chiến. Năm 1974, ông được phong quân hàm Thượng tướng.
Mùa xuân 1975, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn - Gia Định và cả miền Nam. Với tầm nhìn chiến lược và quyết đoán trong thực tiễn chiến đấu, ông được tin tưởng giao trọng trách Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong trận quyết chiến mở “cánh cửa thép” Xuân Lộc, quân ta gặp nhiều khó khăn, Thượng tướng Trần Văn Trà đích thân vượt sông Đồng Nai, đến Sở Chỉ huy Quân đoàn 4 ở La Ngà để nắm tình hình. Tại đây, ông đã đưa ra quyết định xoay chuyển cục diện: Chỉ kiềm chế trực diện và đánh mạnh phía sau, chia cắt cứ điểm Xuân Lộc khỏi hậu phương Biên Hòa, Bà Rịa- Vũng Tàu. Đánh theo phương án ấy, quân ta đã buộc địch phải tháo chạy khỏi Xuân Lộc một cách hỗn loạn. Ngày 30/4/1975, các cánh quân của các quân đoàn đồng loạt tiến công vào Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm.
Sau ngày đất nước thống nhất, Thượng tướng Trần Văn Trà đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định. Giữa bối cảnh thành phố mới giải phóng còn nhiều phức tạp, ông thường xuyên đi thực tế khắp các ngõ ngách Sài Gòn như một người dân bình thường để thấu hiểu đời sống nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của ông, Ủy ban Quân quản thành phố đã thực hiện những chính sách nhân văn và kịp thời: Ổn định được trật tự của thành phố, tuyên bố trả quyền công dân cho toàn bộ viên chức của chính quyền Sài Gòn, kịp thời cứu đói cho dân nghèo... Đồng thời, Ủy ban Quân quản còn tạo điều kiện đưa hàng triệu đồng bào chạy giặc trong chiến tranh trở về quê làm ăn sinh sống; duy trì và ổn định bộ máy làm việc cho mọi hoạt động của thành phố, kêu gọi các nhân viên, viên chức trở lại nhiệm sở làm việc...
Trở về một dải giang san
Thượng tướng Trần Văn Trà là vị tướng văn võ song toàn. Ông là người ham học, say mê nghiên cứu khoa học và là một cây bút sắc sảo, để lại hàng nghìn trang bản thảo, mà gần một nửa trong số đó đã được xuất bản. Ngay cả khi đã nghỉ hưu, trên cương vị Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, trái tim người lính già vẫn chưa bao giờ ngơi nghỉ. Ông vẫn cặm cụi bên bàn viết, dành những năm tháng cuối đời để thực hiện bộ công trình tâm huyết dự kiến 5 tập mang tên “Chặng đường 30 năm B2 Thành đồng”. Tiếc thay, ông chỉ kịp hoàn thành trọn vẹn tập 1 và tập 5, các tập còn lại với những năm tháng khốc liệt nhất ở dạng di cảo dang dở.
Điều quý giá nhất ở một đời người
Trong tác phẩm “Kết thúc cuộc chiến 30 năm”, Thượng tướng Trần Văn Trà đã viết những câu tràn đầy tình cảm: “Khi về thành chớ quên bưng biền, rừng núi. Nhờ nhân dân mà ta làm nên tất cả, nay có tất cả trước hết phải vì nhân dân. Nhờ bạn bè mà ta tạo thành sự nghiệp, nay có sự nghiệp, chớ có lãng quên bạn bè. Cái đức của người Việt Nam là tình nghĩa thủy chung, là đạo xử thế nghĩa con người với con người, nên mắt ta phải trong, lòng ta phải sáng. Đó là cái quý nhất của một đời người...”. Ông nói với chính mình mà cũng gửi gắm nỗi lòng, suy nghĩ của mình đến bao người khác.
Thượng tướng Trần Văn Trà mất năm 1996, đến nay vừa tròn 30 năm. Sau khi ông qua đời, toàn bộ di cảo đồ sộ của ông được Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt chọn lọc, chỉnh lý và biên soạn thành bộ sách gồm 2 tập. Cuốn sách mang tên “Hành trình từ ra đi hai bàn tay trắng đến trở về một dải giang san và những trang bản thảo còn dang dở”, xuất bản năm 2025. Tên sách lấy từ những câu thơ Thượng tướng Trần Văn Trà viết ngay khi hòa bình lập lại: “Ra đi hai bàn tay trắng/ Trở về một dải giang san/ Trăng xưa, hạc cũ, dòng sông lặng/ Mây nước yên bình, thiên mã thăng”. Những vần thơ ngắn gọn, cô đọng nhưng chất chứa cốt cách một vị tướng quân suốt đời vì nước, vì dân, đồng thời bao trùm hành trình 30 năm kháng chiến gian khổ, kiên cường và kỳ vĩ của cả dân tộc.
Tròn 30 năm Thượng tướng Trần Văn Trà đi vào cõi vô cùng, quê hương, đất nước đã tiến những bước dài trong sự nghiệp kiến thiết. Vẫn còn mãi hình ảnh một vị tướng - người con của quê hương núi Ấn - sông Trà, một nhà yêu nước lớn, một chiến sĩ cộng sản kiên cường, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Nhiều người vẫn mãi nhắc lời Thượng tướng Trần Văn Trà đã nói trong lễ mừng chiến thắng tại Sài Gòn năm 1975: “Dân tộc ta từ đây nhất định trường tồn và phát triển”.



