THƯỢNG TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ - VỊ TƯỚNG TÀI BA VỚI QUYẾT ĐỊNH KHIẾN LỊCH SỬ RẼ HƯỚNG VÀO PHÚT CHÓT
Có một vị tướng mà chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận xét: "Càng gặp khó khăn càng tỏ rõ bản lĩnh của một người cộng sản kiên trung." Ông là Thượng tướng Trần Văn Trà, người góp phần chỉ huy nhiều chiến dịch lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam và là một trong những vị tướng trực tiếp tiến vào Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Sinh ngày 15/9/1919 tại xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh (nay thuộc xã Tịnh Khê), tỉnh Quảng Ngãi, tên thật của ông là Nguyễn Chấn, với các bí danh Ba Trà, Tư Chi, Tư Nguyễn. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, tuổi thơ ông gắn liền với cảnh đất nước dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Khi còn học tại Trường Kỹ nghệ Thực hành Huế, ông đã sớm tham gia phong trào học sinh yêu nước và gia nhập Đoàn Thanh niên Dân chủ. Năm 1938, khi mới 19 tuổi, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Những năm hoạt động bí mật, ông nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam, tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo tổ chức.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, Trần Văn Trà lập tức cầm súng chiến đấu. Ông trực tiếp tham gia các trận đánh tại Cầu Bông, Bà Chiểu, Phú Nhuận, rồi cùng Xứ ủy Nam Bộ xây dựng Giải phóng quân Liên quận Hóc Môn, Bà Điểm, Đức Hòa, một trong những đơn vị vũ trang đầu tiên do Đảng trực tiếp tổ chức ở Nam Bộ. Chỉ trong vài năm, ông liên tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như Khu bộ trưởng Khu 8, Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Tư lệnh Khu 7, Phó Tư lệnh Nam Bộ. Chính ông là người góp phần xây dựng Đồng Tháp Mười thành căn cứ địa chiến lược của cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Pháp.
Không chỉ là người chỉ huy chiến đấu, Trần Văn Trà còn đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ. Giai đoạn 1950-1952, khi làm Hiệu trưởng Trường Quân chính Khu 7, ông trực tiếp mở nhiều khóa huấn luyện, đào tạo hàng trăm cán bộ quân sự cho chiến trường Nam Bộ trong bối cảnh lực lượng cách mạng vô cùng thiếu thốn.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra Bắc và lần lượt giữ các chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn, Giám đốc Học viện Quân chính, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương. Nhưng trái tim ông vẫn luôn hướng về chiến trường miền Nam. Năm 1963, ông bí mật trở lại chiến trường, giữ chức Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch lớn như Bình Giã, Đồng Xoài, góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông là một trong những chỉ huy chủ chốt của Bộ Chỉ huy Miền.
Sau Hiệp định Paris năm 1973, Trần Văn Trà được cử làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hợp quân sự bốn bên ở Sài Gòn, nơi được biết đến với cái tên "Trại Đa-vít" ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất. Giữa lòng đối phương, ông cùng đoàn đại biểu kiên trì đấu tranh buộc Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện các điều khoản của Hiệp định. Dù nhiều lần bị gây sức ép, khiêu khích và thậm chí bị ném bom ngay tại điểm hẹn đón đoàn, ông vẫn giữ vững lập trường, khiến phía đối phương nhiều lần phải nhượng bộ.
Tháng 4/1975, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Trần Văn Trà giữ cương vị Phó Tư lệnh Chiến dịch. Một trong những dấu ấn lớn nhất của ông là tại trận Xuân Lộc, nơi được chính quyền Sài Gòn gọi là "cánh cửa thép" bảo vệ thủ đô. Khi các đợt tiến công trực diện gặp tổn thất lớn, chính ông đã trực tiếp vượt sông Đồng Nai đến Sở chỉ huy Quân đoàn 4 để nắm tình hình. Sau khi phân tích thế trận, ông quyết định thay đổi hoàn toàn cách đánh, không tiếp tục công kích trực diện mà chuyển sang chia cắt Xuân Lộc khỏi Biên Hòa và Bà Rịa, đánh vào phía sau đội hình địch. Quyết định này buộc quân đội Sài Gòn phải rút bỏ Xuân Lộc, mở toang cánh cửa cuối cùng tiến vào Sài Gòn.
Ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Ba ngày sau, 3/5/1975, Trần Văn Trà được giao giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định. Trong những ngày đầu tiếp quản thành phố, ông chỉ đạo nhanh chóng ổn định an ninh, khôi phục trật tự xã hội, cứu trợ người dân nghèo, đồng thời tổ chức cho hàng trăm nghìn sĩ quan và binh lính của chính quyền cũ đăng ký học tập cải tạo, góp phần giúp Sài Gòn sớm ổn định sau chiến tranh.
Sau hòa bình, ông tiếp tục giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương. Ông được phong quân hàm Thượng tướng năm 1974. Sau khi nghỉ hưu năm 1982, ông dành nhiều năm viết hồi ký, nổi bật là bộ "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm". Do chứa nhiều nhận định khác với quan điểm chính thống thời điểm đó, bộ sách từng bị thu hồi, nhưng nhiều năm sau đã được tái bản và trở thành một nguồn tư liệu quý về lịch sử chiến tranh Việt Nam.
Thượng tướng Trần Văn Trà qua đời ngày 20/4/1996, hưởng thọ 76 tuổi. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước trao tặng 2 Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Tên ông ngày nay được đặt cho nhiều tuyến đường tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai như một sự tri ân đối với người vị tướng đã dành trọn cuộc đời cho độc lập dân tộc.
Từ một chàng trai nghèo ở Quảng Ngãi đến vị Thượng tướng chỉ huy những trận đánh quyết định của lịch sử, Trần Văn Trà đã để lại dấu ấn không chỉ bằng tài thao lược quân sự, mà còn bằng bản lĩnh của một người chỉ huy luôn dám chịu trách nhiệm và đưa ra những quyết định làm thay đổi cục diện chiến trường.


