Anh hùng Lực lượng vũ trang

Thượng tướng, Viện sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu - Ngọn lửa không tắt bên dòng Thạch Hãn

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu sinh ngày 23/2/1947, quê xã Hải Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông nhập ngũ năm 1965, trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên - Quảng Trị, nhiều lần bị thương nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị lập nhiều chiến công xuất sắc. Năm 1972, ở tuổi 25, ông được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, trở thành một trong những trung đoàn trưởng trẻ nhất Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân

TP. Hồ Chí Minh03/07/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mỗi lần trở lại Thành cổ Quảng Trị, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu đều đứng rất lâu bên dòng sông Thạch Hãn.

Ông lặng lẽ thả một bó hoa xuống dòng nước.

Không nói gì.

Bởi ông hiểu, dưới dòng sông bình yên hôm nay là biết bao đồng đội đã mãi mãi nằm lại.

Ông từng tâm sự:

"Mỗi mét đất Quảng Trị đều thấm máu của người lính."

Năm 1965, chàng thanh niên Nguyễn Huy Hiệu rời quê Nam Định lên đường nhập ngũ.

Ông mang theo lời dặn của mẹ:

"Đất nước còn chiến tranh thì con phải làm tròn bổn phận."

Sau thời gian huấn luyện, ông vào chiến trường Trị Thiên – nơi được xem là một trong những chiến trường khốc liệt nhất.

Ở đó, bom đạn gần như không có ngày ngơi nghỉ.

Người lính trẻ nhanh chóng trưởng thành qua từng trận đánh.

Ông nhiều lần bị thương.

Có lần, mảnh pháo găm khắp người.

Đồng đội khuyên ra tuyến sau điều trị.

Ông chỉ lắc đầu:

"Đơn vị còn chiến đấu thì mình chưa thể rời."

Chính tinh thần ấy khiến đồng đội luôn tin tưởng ở người chỉ huy trẻ.

Mùa hè năm 1972, chiến sự tại Quảng Trị bước vào giai đoạn ác liệt.

Đối phương huy động hỏa lực cực mạnh nhằm tái chiếm các vị trí chiến lược.

Lúc ấy, Nguyễn Huy Hiệu được giao giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27.

Ông mới 25 tuổi.

Đó là độ tuổi mà nhiều người còn là chiến sĩ.

Nhưng ông đã phải chỉ huy hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ giữa chiến trường khốc liệt.

Trước một trận phản kích lớn của đối phương, ông đi dọc chiến hào.

Bắt tay từng chiến sĩ.

Ông nói:

"Các đồng chí hãy nhớ, phía sau chúng ta là Tổ quốc."

Câu nói ngắn gọn ấy tiếp thêm sức mạnh cho cả trung đoàn.

Những ngày ấy, pháo địch bắn dồn dập.

Có ngày hàng chục nghìn quả pháo trút xuống trận địa.

Đất đá tung mù.

Công sự vừa đào xong lại bị san phẳng.

Nhưng cứ sau mỗi đợt pháo.

Những người lính lại bò lên khỏi hầm.

Tiếp tục chiến đấu.

Có lần, một đại đội bị chia cắt.

Thông tin liên lạc mất hoàn toàn.

Nguyễn Huy Hiệu quyết định trực tiếp băng qua làn đạn để nắm tình hình.

Một cán bộ đi cùng nói:

"Anh ở lại sở chỉ huy sẽ an toàn hơn."

Ông mỉm cười:

"Muốn bộ đội vững lòng thì người chỉ huy phải có mặt."

Đó là phong cách chỉ huy theo ông suốt cả cuộc đời binh nghiệp.

Trong một trận đánh ác liệt, ông lại bị thương.

Máu thấm đỏ vai áo.

Quân y đề nghị đưa đi cấp cứu.

Ông chỉ băng tạm vết thương rồi tiếp tục chỉ huy.

Ông nói:

"Còn nghe được bộ đàm là còn chỉ huy được."

Nhờ sự chỉ huy linh hoạt và tinh thần chiến đấu quả cảm, Trung đoàn 27 nhiều lần đập tan các đợt tiến công của đối phương, giữ vững trận địa.

Năm 1973, Nguyễn Huy Hiệu được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhưng khi nhắc đến phần thưởng ấy, ông luôn nói:

"Đó là phần thưởng của cả trung đoàn."

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục học tập, nghiên cứu và đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng.

Ông từng là Tư lệnh Quân đoàn 1, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Không chỉ là một vị tướng trận mạc, ông còn dành nhiều tâm huyết cho nghiên cứu khoa học quân sự và được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quân sự Liên bang Nga.

Dù ở cương vị nào, ông vẫn giữ nếp sống giản dị của người lính.

Mỗi lần gặp thế hệ trẻ, ông thường mang theo những bức ảnh cũ chụp đồng đội.

Ông nói:

"Tôi còn sống là nhờ sự hy sinh của rất nhiều người khác."

Có người hỏi:

"Điều gì khiến bác xúc động nhất mỗi lần trở lại Quảng Trị?"

Ông nhìn dòng Thạch Hãn rồi chậm rãi đáp:

"Không phải chiến thắng.

Mà là nhớ những người đã không kịp trở về."

Mỗi mùa tháng Bảy, ông lại cùng đồng đội thắp hương tại Nghĩa trang Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9 và Thành cổ Quảng Trị.

Với ông, đó không chỉ là sự tri ân.

Mà còn là lời hứa sẽ tiếp tục kể lại cho thế hệ sau về một thời tuổi trẻ đã cháy hết mình vì độc lập của Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn