Tiến công địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh trận then chốt trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972
Tiến công địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh trận then chốt trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972
Xuân Hè 1972, địch tăng cường lực lượng lên giữ thị xã Kon Tum, lập tuyến phòng ngự ở Tây sông Pô Kô bởi phán đoán Tây Nguyên sẽ là hướng tiến công chính của ta, trong đó, Bắc Tây Nguyên giữ vị trí quan trọng. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ta mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực Bắc Tây Nguyên, trong đó trận tiến công vào Căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh là trận then chốt đầu tiên của chiến dịch.Đến cuối tháng 2/1972, quân địch ở Bắc Tây Nguyên hình thành 3 cụm phòng ngự chủ yếu ở: Đắc Tô - Tân Cảnh, thị xã Kon Tum và thị xã Pleiku với lực lượng gồm 3 sư đoàn bộ binh, 2 liên đoàn biệt động quân, 10 chi đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh, 25 đại đội bảo an, 112 trung đội dân vệ, 3 đại đội thám báo và 30 đoàn bình định. Tại Đắc Tô - Tân Cảnh, địch bố trí sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 22, hai trung đoàn 42, 47 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 41 bộ binh, trung đoàn thiết giáp 14, 2 tiểu đoàn pháo binh và 2 tiểu đoàn bảo an[1]. Trong cụm phòng ngự Đắc Tô - Tân Cảnh của địch thì Căn cứ 42 - Tân Cảnh là căn cứ lớn, giữ vị trí then chốt trong tuyến phòng ngự cơ bản của địch. Tại đây địch bố trí sư đoàn bộ Sư đoàn 22, Trung đoàn 42, trung đoàn tăng - thiết giáp, trung đoàn pháo binh, lực lượng biệt động biên phòng tỉnh Kon Tum, 1 đại đội bảo vệ sở chỉ huy, 1 đại đội biệt kích, 1 đại đội công binh ở Căn cứ 42 Tân Cảnh; Trung đoàn 47, 1 chi đoàn xe tăng, xe thiết giáp, 1 trận địa pháo binh ở Đắc Tô 2; đại đội biệt kích ở Plei Cần; các đại đội bảo an, dân vệ, cảnh sát dã chiến ở quận lỵ, các ấp và các cứ điểm xung quanh. Toàn bộ lực lượng của địch ở đây là 13 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, 3 tiểu đoàn pháo binh, yểm trợ đường không là Sư đoàn 6 không quân ở Pleiku. Địch xác định hướng phòng ngự chủ yếu là hướng Bắc và Tây Bắc, vì cho rằng ta chỉ có thể tiến công vào Đắc Tô - Tân Cảnh từ hướng Đường 18, các hướng khác có nhiều cứ điểm, căn cứ của chúng khống chế, ta không thể tiến công được. 
Đội hình xe tăng ta vận động tiến công vào Đắc Tô-Tân Cảnh năm 1972. Ảnh tư liệu. Về phía ta, thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định chọn khu vực Bắc Tây Nguyên gồm Kon Tum, Gia Lai mở chiến dịch tiến công nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng của chủ lực Quân đoàn 2 và lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh và thị xã Kon Tum, mở rộng vùng căn cứ Tây Gia Lai, Đắc Lắc hình thành một vùng căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền căn cứ địa miền Đông Nam Bộ, phối hợp với chiến trường toàn Miền. Bộ Tư lệnh Chiến dịch do đồng chí Hoàng Minh Thảo là Tư lệnh, đồng chí Trương Chí Cương, Phó Bí thư Khu ủy Khu 5 làm Chính ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Sư đoàn 320, Sư đoàn 2 (thiếu), 4 Trung đoàn Bộ binh (25, 95, 66 và 28), Tiểu đoàn 631, Trung đoàn Đặc công 400, 2 Trung đoàn Pháo binh (675 và 40), 1 Tiểu đoàn xe tăng T54, 4 tiểu đoàn và 1 đại đội cao xạ, 2 trung đoàn công binh cùng lực lượng vũ trang địa phương. Ta xác định cách đánh đó là dùng các biện pháp nghi binh kéo chủ lực của Quân đoàn 2 và lực lượng tổng dự bị của địch ra ngoài công sự ở những khu vực ta đã chuẩn bị sẵn để đánh vận động, đồng thời đánh cắt giao thong trên Đường 14 (Chư Thoi, Võ Định), cắt Đường 19 (đoạn An Khê). Sau đó, tiến công vào các cứ điểm ở Tây sông Pô Kô, phá vỡ tuyến phòng ngự vòng ngoài, tạo điều kiện đưa lực lượng đánh vào trung tâm phòng ngự của địch, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Ý định ban đầu của Bộ Tư lệnh Chiến dịch và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 sẽ đánh vào Đắc Tô - Tân Cảnh theo cách bóc vỏ từ ngoài vào trong. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu tổ chức phòng ngự của địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 nhận thấy, lượng dự trữ lương thực, thực phẩm của ta không nhiều, muốn đánh vào Căn cứ 42 Tân Cảnh phải có hỏa lực mạnh chế áp liên tục. Do vậy, Sư đoàn đã đề xuất phương án: Bí mật mở một con đường theo đường phía Đông dãy Ngọc Linh để đưa xe tăng, pháo binh và cao xạ có xe kéo bất ngờ đánh thẳng vào Căn cứ 42 Tân Cảnh bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng từ phía Đông, hướng địch sơ hở nhất. Nhưng, phải giữ bí mật không cho địch phát hiện được ý đồ của ta mà vẫn để chúng xác định ta sẽ tiến công Đắc Tô - Tân Cảnh từ hướng Đông Đường 18. Trận đánh được thống nhất tiến hành qua 2 bước: Bước 1, sử dụng một số đơn vị tập kích một số mục tiêu địch ở vòng ngoài, tổ chức một số trận địa phòng không, kéo địch ra tiêu hao lực lượng của chúng… Bước 2, tập trung lực lượng bí mật cơ động theo Đường 50A vào triển khai, bất ngờ tiến công nhanh chóng tiêu diệt cụm Căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh. 1 giờ ngày 3/4/1972, một số đơn vị đặc công của ta tập kích vào sở chỉ huy Trung đoàn 47 ở Đắc Tô 2, diệt gọn địch ở ấp Tam Bôi. Địch sử dụng 2 tiểu đoàn (1 và 4) đổ bộ xuống Ngọc Tụ; Tiểu đoàn 3 đổ bộ xuống các điểm cao cách Đắc Tô 2 khoảng 7km về phía Tây Bắc nhằm đẩy lùi sức ép của ta, nhưng đã bị ta vây đánh. Trung đoàn 1 và Trung đoàn 141 của ta liên tiếp uy hiếp, bao vây địch. Địch vội vã dùng máy bay B52 hủy diệt ở vòng ngoài và đánh phá ác liệt ở vòng trong. Ngày 17/4, địch đưa Tiểu đoàn 9 dù chiếm Ngọc Tụ, ngày 19/4, đưa Tiểu đoàn 1 ra chiếm Đồi Tranh, nhưng đều bị ta tiến công và bị tiêu diệt. Cùng với các đòn tiến công địch ở vòng ngoài và các hoạt động nghi binh, Đường 50A của ta từ phía Tây sông Pô Kô sang phía Đông Đường 14 hoàn thành. Ta cố gắng giấu kín việc thi công con đường nhưng địch đã phát hiện, ngăn chặn. Bước thứ nhất hoàn thành, ta quyết định chuyển sang thực hiện phương án 2. Chiều tối 23/4/1972, pháo binh của ta bắn vào Căn cứ Tân Cảnh. Từ các hướng tiến công, các đơn vị tiến hành mở cửa. 4 giờ 30 phút ngày 24/4, quân ta bắt đầu tiến công. Trên hướng tiến công chủ yếu của Sư đoàn 2, Tiểu đoàn 9 tiêu diệt các chốt địch ở vòng ngoài, đánh chiếm thị trấn Tân Cảnh. Tiểu đoàn 7 thọc sâu vào sở chỉ huy Sư đoàn 22 và Trung đoàn 42 và trận địa pháo địch. Tiểu đoàn 8 đánh chiếm khu cố vấn. Tiểu đoàn 37 theo lệnh của chỉ huy Trung đoàn 66 tổ chức thành 2 mũi, một mũi vòng theo cửa mở của Tiểu đoàn 7, một mũi đánh thẳng vào phía Tây căn cứ. Đến 11 giờ ngày 24/4/1972, quân ta hoàn toàn làm chủ Căn cứ 42 - Tân Cảnh. Cùng thời gian đó, Tiểu đoàn 60 Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn đặc công của Sư đoàn cũng mở xong cửa vào Căn cứ Đắc Tô 2. Khi Trung đoàn 66 phát triển vào tung thâm Căn cứ 42 thì Sư đoàn 1 điều 1 trung đội xe tăng từ Căn cứ 42 Tân Cảnh tăng cường cho Trung đoàn bộ binh 1. Pháo binh chiến dịch bắn dồn dập vào Đắc Tô 2 chi viện cho quân ta xung phong. Đại đội 5 đánh thẳng vào sở chỉ huy, trận địa pháo của địch. Ở phía Nam, Đại đội 3 đặc công khép chặt không cho địch vượt sông Pô Kô tháo chạy. 10 giờ ngày 24/4, quân ta làm chủ Căn cứ Đắc Tô 2. Chớp thời cơ, Trung đoàn 141 nhanh chóng tổ chức tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch và làm chủ quận lỵ Đắc Tô. Sau 10 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt một căn cứ phòng ngự với qui mô sư đoàn của địch, giải phóng một vùng rộng lớn. Ta tiêu diệt sở chỉ huy nhẹ sư đoàn cùng 2 trung đoàn bộ binh (42 và 47) thuộc sư đoàn 22 ngụy, 2 chi đoàn xe tang, xe thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh và một số đơn vị bảo an; bắt 1.700 tên địch; thu 4 xe tăng M41, 5 xe M113, 20 khẩu pháo loại 105 và 155mm; phá hủy nhiều vũ khí, khí tài và trang thiết bị của địch, bắn rơi 2 máy bay của chúng. Trận then chốt đầu tiên của chiến dịch thắng lợi giải phóng khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh đã khiến toàn bộ các cứ điểm khác của địch hoảng sợ tháo chạy về thị xã Kon Tum, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng trong chiến dịch tiêu diệt nhiều quân địch ở ngoài công sự. Thắng lợi của trận Đắc Tô - Tân Cảnh đã mở ra thời cơ thuận lợi cho chiến dịch phát triển xuống phía Nam đánh vào thị xã Kon Tum. Ưu điểm của trận đánh là Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã đánh giá chính xác về địch, hướng tiến công và mục tiêu đánh trận then chốt. Từ đó đưa ra cách đánh phù hợp, lực lượng phù hợp, công tác đảm bảo chu đáo. Tuy nhiên, trong từng thời điểm việc nắm các lực lượng chưa tốt. Đặc biệt, để tạo thế đánh trực tiếp vào Đắc Tô - Tân Cảnh, ta đã thực hiện một loạt các trận tập kích vào các vị trí vòng ngoài, kéo chủ lực của địch ra để tiêu hao, đưa pháo binh vào gần phá hủy các công trình phòng ngự của địch, sử dụng lực lượng cao xạ khống chế đường không, thực hiện chia cắt bộ binh với bộ binh, cắt xe tăng với bộ binh, cắt không quân với bộ binh và xe tăng, cắt pháo binh với bộ binh và xe tăng; đồng thời với việc bí mật mở đường đưa chủ lực vào tập kết và bất ngờ đột phá từ phía Đông - hướng địch phòng ngự sơ hở. Đây là nét đặc sắc về nghi binh, tạo thế, đánh trận then chốt của Chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Nói về sự bất ngờ của địch ở trận Đắc Tô - Tân Cảnh một tờ báo viết: “Xe tăng Cộng sản vòng qua các tiền đồn bảo vệ, đánh thọc sâu vào sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn bộ binh số 22” và đến khi “các nòng pháo của xe tăng hầu như chĩa thẳng vào boong ke chỉ huy, các cố vấn Mỹ mới giật mình không hiểu xe tăng từ đâu tới”[2]. Chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh góp phần phát triển thế và lực của ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, tạo tiền đề cho chiến dịch tiến công chiến lược Tây Nguyên (3/1975), tiến tới tổng tiến công, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đội hình xe tăng ta vận động tiến công vào Đắc Tô-Tân Cảnh năm 1972. Ảnh tư liệu. Về phía ta, thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định chọn khu vực Bắc Tây Nguyên gồm Kon Tum, Gia Lai mở chiến dịch tiến công nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng của chủ lực Quân đoàn 2 và lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh và thị xã Kon Tum, mở rộng vùng căn cứ Tây Gia Lai, Đắc Lắc hình thành một vùng căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền căn cứ địa miền Đông Nam Bộ, phối hợp với chiến trường toàn Miền. Bộ Tư lệnh Chiến dịch do đồng chí Hoàng Minh Thảo là Tư lệnh, đồng chí Trương Chí Cương, Phó Bí thư Khu ủy Khu 5 làm Chính ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Sư đoàn 320, Sư đoàn 2 (thiếu), 4 Trung đoàn Bộ binh (25, 95, 66 và 28), Tiểu đoàn 631, Trung đoàn Đặc công 400, 2 Trung đoàn Pháo binh (675 và 40), 1 Tiểu đoàn xe tăng T54, 4 tiểu đoàn và 1 đại đội cao xạ, 2 trung đoàn công binh cùng lực lượng vũ trang địa phương. Ta xác định cách đánh đó là dùng các biện pháp nghi binh kéo chủ lực của Quân đoàn 2 và lực lượng tổng dự bị của địch ra ngoài công sự ở những khu vực ta đã chuẩn bị sẵn để đánh vận động, đồng thời đánh cắt giao thong trên Đường 14 (Chư Thoi, Võ Định), cắt Đường 19 (đoạn An Khê). Sau đó, tiến công vào các cứ điểm ở Tây sông Pô Kô, phá vỡ tuyến phòng ngự vòng ngoài, tạo điều kiện đưa lực lượng đánh vào trung tâm phòng ngự của địch, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Ý định ban đầu của Bộ Tư lệnh Chiến dịch và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 sẽ đánh vào Đắc Tô - Tân Cảnh theo cách bóc vỏ từ ngoài vào trong. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu tổ chức phòng ngự của địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 nhận thấy, lượng dự trữ lương thực, thực phẩm của ta không nhiều, muốn đánh vào Căn cứ 42 Tân Cảnh phải có hỏa lực mạnh chế áp liên tục. Do vậy, Sư đoàn đã đề xuất phương án: Bí mật mở một con đường theo đường phía Đông dãy Ngọc Linh để đưa xe tăng, pháo binh và cao xạ có xe kéo bất ngờ đánh thẳng vào Căn cứ 42 Tân Cảnh bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng từ phía Đông, hướng địch sơ hở nhất. Nhưng, phải giữ bí mật không cho địch phát hiện được ý đồ của ta mà vẫn để chúng xác định ta sẽ tiến công Đắc Tô - Tân Cảnh từ hướng Đông Đường 18. Trận đánh được thống nhất tiến hành qua 2 bước: Bước 1, sử dụng một số đơn vị tập kích một số mục tiêu địch ở vòng ngoài, tổ chức một số trận địa phòng không, kéo địch ra tiêu hao lực lượng của chúng… Bước 2, tập trung lực lượng bí mật cơ động theo Đường 50A vào triển khai, bất ngờ tiến công nhanh chóng tiêu diệt cụm Căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh. 1 giờ ngày 3/4/1972, một số đơn vị đặc công của ta tập kích vào sở chỉ huy Trung đoàn 47 ở Đắc Tô 2, diệt gọn địch ở ấp Tam Bôi. Địch sử dụng 2 tiểu đoàn (1 và 4) đổ bộ xuống Ngọc Tụ; Tiểu đoàn 3 đổ bộ xuống các điểm cao cách Đắc Tô 2 khoảng 7km về phía Tây Bắc nhằm đẩy lùi sức ép của ta, nhưng đã bị ta vây đánh. Trung đoàn 1 và Trung đoàn 141 của ta liên tiếp uy hiếp, bao vây địch. Địch vội vã dùng máy bay B52 hủy diệt ở vòng ngoài và đánh phá ác liệt ở vòng trong. Ngày 17/4, địch đưa Tiểu đoàn 9 dù chiếm Ngọc Tụ, ngày 19/4, đưa Tiểu đoàn 1 ra chiếm Đồi Tranh, nhưng đều bị ta tiến công và bị tiêu diệt. Cùng với các đòn tiến công địch ở vòng ngoài và các hoạt động nghi binh, Đường 50A của ta từ phía Tây sông Pô Kô sang phía Đông Đường 14 hoàn thành. Ta cố gắng giấu kín việc thi công con đường nhưng địch đã phát hiện, ngăn chặn. Bước thứ nhất hoàn thành, ta quyết định chuyển sang thực hiện phương án 2. Chiều tối 23/4/1972, pháo binh của ta bắn vào Căn cứ Tân Cảnh. Từ các hướng tiến công, các đơn vị tiến hành mở cửa. 4 giờ 30 phút ngày 24/4, quân ta bắt đầu tiến công. Trên hướng tiến công chủ yếu của Sư đoàn 2, Tiểu đoàn 9 tiêu diệt các chốt địch ở vòng ngoài, đánh chiếm thị trấn Tân Cảnh. Tiểu đoàn 7 thọc sâu vào sở chỉ huy Sư đoàn 22 và Trung đoàn 42 và trận địa pháo địch. Tiểu đoàn 8 đánh chiếm khu cố vấn. Tiểu đoàn 37 theo lệnh của chỉ huy Trung đoàn 66 tổ chức thành 2 mũi, một mũi vòng theo cửa mở của Tiểu đoàn 7, một mũi đánh thẳng vào phía Tây căn cứ. Đến 11 giờ ngày 24/4/1972, quân ta hoàn toàn làm chủ Căn cứ 42 - Tân Cảnh. Cùng thời gian đó, Tiểu đoàn 60 Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn đặc công của Sư đoàn cũng mở xong cửa vào Căn cứ Đắc Tô 2. Khi Trung đoàn 66 phát triển vào tung thâm Căn cứ 42 thì Sư đoàn 1 điều 1 trung đội xe tăng từ Căn cứ 42 Tân Cảnh tăng cường cho Trung đoàn bộ binh 1. Pháo binh chiến dịch bắn dồn dập vào Đắc Tô 2 chi viện cho quân ta xung phong. Đại đội 5 đánh thẳng vào sở chỉ huy, trận địa pháo của địch. Ở phía Nam, Đại đội 3 đặc công khép chặt không cho địch vượt sông Pô Kô tháo chạy. 10 giờ ngày 24/4, quân ta làm chủ Căn cứ Đắc Tô 2. Chớp thời cơ, Trung đoàn 141 nhanh chóng tổ chức tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch và làm chủ quận lỵ Đắc Tô. Sau 10 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt một căn cứ phòng ngự với qui mô sư đoàn của địch, giải phóng một vùng rộng lớn. Ta tiêu diệt sở chỉ huy nhẹ sư đoàn cùng 2 trung đoàn bộ binh (42 và 47) thuộc sư đoàn 22 ngụy, 2 chi đoàn xe tang, xe thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh và một số đơn vị bảo an; bắt 1.700 tên địch; thu 4 xe tăng M41, 5 xe M113, 20 khẩu pháo loại 105 và 155mm; phá hủy nhiều vũ khí, khí tài và trang thiết bị của địch, bắn rơi 2 máy bay của chúng. Trận then chốt đầu tiên của chiến dịch thắng lợi giải phóng khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh đã khiến toàn bộ các cứ điểm khác của địch hoảng sợ tháo chạy về thị xã Kon Tum, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng trong chiến dịch tiêu diệt nhiều quân địch ở ngoài công sự. Thắng lợi của trận Đắc Tô - Tân Cảnh đã mở ra thời cơ thuận lợi cho chiến dịch phát triển xuống phía Nam đánh vào thị xã Kon Tum. Ưu điểm của trận đánh là Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã đánh giá chính xác về địch, hướng tiến công và mục tiêu đánh trận then chốt. Từ đó đưa ra cách đánh phù hợp, lực lượng phù hợp, công tác đảm bảo chu đáo. Tuy nhiên, trong từng thời điểm việc nắm các lực lượng chưa tốt. Đặc biệt, để tạo thế đánh trực tiếp vào Đắc Tô - Tân Cảnh, ta đã thực hiện một loạt các trận tập kích vào các vị trí vòng ngoài, kéo chủ lực của địch ra để tiêu hao, đưa pháo binh vào gần phá hủy các công trình phòng ngự của địch, sử dụng lực lượng cao xạ khống chế đường không, thực hiện chia cắt bộ binh với bộ binh, cắt xe tăng với bộ binh, cắt không quân với bộ binh và xe tăng, cắt pháo binh với bộ binh và xe tăng; đồng thời với việc bí mật mở đường đưa chủ lực vào tập kết và bất ngờ đột phá từ phía Đông - hướng địch phòng ngự sơ hở. Đây là nét đặc sắc về nghi binh, tạo thế, đánh trận then chốt của Chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Nói về sự bất ngờ của địch ở trận Đắc Tô - Tân Cảnh một tờ báo viết: “Xe tăng Cộng sản vòng qua các tiền đồn bảo vệ, đánh thọc sâu vào sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn bộ binh số 22” và đến khi “các nòng pháo của xe tăng hầu như chĩa thẳng vào boong ke chỉ huy, các cố vấn Mỹ mới giật mình không hiểu xe tăng từ đâu tới”[2]. Chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh góp phần phát triển thế và lực của ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, tạo tiền đề cho chiến dịch tiến công chiến lược Tây Nguyên (3/1975), tiến tới tổng tiến công, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.



