TIẾN SĨ ĐỖ THÚC TỊNH TẤM LÒNG TRUNG NGHĨA VÀ KHÍ PHÁCH DANH NHÂN XỨ QUẢNG

TRƯỜNG TH NGÔ GIA TỰ - PHƯỜNG AN HẢI - ĐÀ NẴNG
TIẾN SĨ ĐỖ THÚC TỊNH
TẤM LÒNG TRUNG NGHĨA VÀ KHÍ PHÁCH DANH NHÂN XỨ QUẢNG
Mỗi trang sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đều được khắc ghi bằng máu, mồ hôi và trí tuệ của những thế hệ đi trước. Trong dòng chảy kiêu hùng ấy, hình ảnh danh nhân Đỗ Thúc Tịnh hiện lên như một biểu tượng cao đẹp về trí tuệ, nhân cách và khí phách của một vị quan thanh liêm "văn võ toàn tài".
Vị Tiến sĩ duy nhất đất Hòa Vang và tấm lòng "Đỗ Phụ"

Đỗ Thúc Tịnh (còn gọi là Đỗ Thúc Tĩnh, tự Cấn Trai) sinh ngày 20/02/1818 tại làng La Châu (nay thuộc xã Hòa Tiến, thành phố Đà Nẵng). Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, hiếu học. Năm 1846, ông đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ và hai năm sau, vào năm 1848, ông xuất sắc trúng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, trở thành vị Tiến sĩ đầu tiên và duy nhất của huyện Hòa Vang dưới thời phong kiến.
Không chỉ am tường Nho học, Đỗ Thúc Tịnh còn tinh thông y học, địa lý và kinh dịch. Năm 1853, khi được bổ nhiệm làm Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa) – vùng đất khô cằn, đời sống nhân dân thiếu khổ và thường xuyên bị nạn cọp quấy phá – ông đã mang hết tâm sức để chăm lo cho nhân dân. Ông tổ chức lại sản xuất, hướng dẫn bà con khai hoang lập ấp, sửa sang đường xá, cung cấp trâu bò và công cụ sản xuất, đồng thời nghĩ ra kế bẫy cọp trừ hại cho dân. Cảm động trước ân đức ấy, nhân dân Diên Khánh thời đó kính trọng gọi ông bằng cái tên thân thương: "Đỗ phụ" (người cha họ Đỗ). Vua Tự Đức cũng nhiều lần ngợi khen ông là "người thanh liêm cần cán vào hạng nhất trong hàng phủ huyện".
Dấn thân nơi tuyến đầu: Khí phách Khâm sai chống Pháp
Tháng 8 năm 1858, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vang lên tại cửa biển Đà Nẵng. Trước sự cản phá quyết liệt của quân dân ta, phe địch quay sang tấn công miền Nam và đánh hạ thành Gia Định vào tháng 2 năm 1859. Căm tức trước nạn ngoại xâm, Tiến sĩ Đỗ Thúc Tịnh đã chủ động dâng sớ xin vào chiến trường phía Nam trực tiếp đánh đuổi quân thù.
Trân trọng chí khí trung nghĩa và sự khẳng khái của ông, vua Tự Đức phong ông làm Khâm sai, ban bạc và ngựa trạm để ông vào Vĩnh Long, Hà Tiên chiêu mộ nghĩa dũng, tuyên chỉ dụ động viên sĩ dân. Sau đó, ông được thăng làm Lại bộ Thị lang và giữ chức Tuần phủ Định Tường.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Tại chiến trường gian khổ, ông dốc lòng chiêu tập binh sĩ, tích trữ lương thực, chọn địa thế hiểm yếu xây dựng đồn lũy. Ông còn sáng tạo đề xuất phương lược thuê người nước ngoài làm nội ứng cả trên mặt thủy lẫn mặt bộ để phá thế trận của kẻ thù. Nhận xét về ông, vua Tự Đức đã dâng lời dụ khen ngợi: "Thúc Tĩnh xem xét tình hình, trù nghĩ phương lược... Vì nước làm việc như vậy là có lòng trung thành, biết mưu tính sâu xa".
Trọn đời vì nước – Kí ức sống mãi với thời gian
Giữa lúc đang gánh vác trọng trách quân cơ nặng nề, ngày 21/02/1862 (ngày 26 tháng Giêng năm Nhâm Tuất), Tiến sĩ Đỗ Thúc Tịnh trút hơi thở cuối cùng tại quân thứ Vĩnh Long do bạo bệnh, hưởng thọ 44 tuổi.
Sự ra đi của ông là một mất mát lớn cho triều đình và nhân dân. Vua Tự Đức đã truy tặng ông hàm Tuần vũ Định Tường, truy phong danh hiệu cao quý "VĂN VÕ TOÀN TÀI ĐẠI TƯỚNG CÔNG" và cử đại thần về tận quê nhà phúng điếu. Thi hài của ông được đưa về an táng tại làng Hương Lam, huyện Hòa Vang. Cuộc đời và sự nghiệp của ông được Quốc Sử Quán triều Nguyễn trang trọng ghi lại trong các bộ chính sử Đại Nam Thực Lục Chính Biên và Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên.
Ghi nhận những đóng góp to lớn của ông, năm 2007, phần mộ của cụ Đỗ Thúc Tịnh đã được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Tại thành phố Đà Nẵng, tên của ông được trân trọng đặt cho một tuyến đường rộng lớn và một ngôi trường THCS trên địa bàn.
Câu chuyện về vị danh nhân kiên trung không chỉ là bài học sâu sắc về tinh thần hiếu học, tấm lòng thương dân mà còn là ngọn lửa yêu nước nồng nàn. Thế hệ trẻ hôm nay sẽ tiếp tục lưu giữ, bồi đắp và lan tỏa những giá trị truyền thống tốt đẹp ấy, biến niềm tự hào lịch sử thành động lực hành động cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.



