Khác

TIẾN SĨ PHẠM VĂN BẠCH (1910 - 1987)

Tiến sĩ Phạm Văn Bạch sinh ngày 18/6/1910 tại làng Khánh Lộc, tổng Bình Phước, nay là xã Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Cha ông là một công chức cao cấp tại Sài Gòn, mẹ ông là một tiểu thơ khuê các con của một điền chủ cai tổng hàm đốc phủ sứ nhưng có tư tưởng yêu nước và nhân đạo. Ngay từ nhỏ, hàng ngày đến trường tiểu học ở tỉnh lỵ Trà Vinh, “cậu hai” Phạm Văn Bạch được đưa rước trên chiếc xe song mã, luôn có kẻ hầu, người hạ bên mình.

Vĩnh Long02/12/2025Ban Thường vụ Huyện ủy Châu Thành tỉnh Trà Vinh (ĐOÀN XÃ CHÂU THÀNH)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tiến sĩ Phạm Văn Bạch sinh ngày 18/6/1910 tại làng Khánh Lộc, tổng Bình Phước, nay là xã Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Cha ông là một công chức cao cấp tại Sài Gòn, mẹ ông là một tiểu thơ khuê các con của một điền chủ cai tổng hàm đốc phủ sứ nhưng có tư tưởng yêu nước và nhân đạo. Ngay từ nhỏ, hàng ngày đến trường tiểu học ở tỉnh lỵ Trà Vinh, “cậu hai” Phạm Văn Bạch được đưa rước trên chiếc xe song mã, luôn có kẻ hầu, người hạ bên mình.

Có thể nói, sinh ra trong giai đoạn có thể coi là hoàng kim của chế độ thực dân Pháp lại xuất thân từ một gia đình thế gia vọng tộc và đã tỏ ra thông minh xuất chúng ngay từ thuở thiếu thời. Năm 1926, ông được gởi sang Pháp học, năm 23 tuổi ông có hai bằng cử nhân Luật và Triết học, năm 27 tuổi ông hoàn thành Luận án Tiến sĩ Luật về đề tài luật pháp Xô Viết và vấn đề dân tộc, giai cấp của ông đã làm cho Hội đồng Giám khảo bất ngờ. Một số vị có tư tưởng thực dân giận dữ và không đồng tình. Nhưng ông lại nhận được sự ngợi khen rất mực của báo chí và những người Cộng sản Pháp. Một tờ báo viết: “Một người Việt Nam trẻ tuổi, lần đầu tiên tại những trường Đại học Pháp, nghiên cứu về đường lối của Mark một cách chính thống”. Và điều này làm cho nhà cầm quyền thực dân, ở chính quốc cũng như ở Việt Nam, hết sức tức tối, chúng làm đủ mọi cách khiến ông không tìm được việc làm, dù có bằng Tiến sĩ Luật trong tay. Cuối cùng, ông quyết định về nước “Trước tiên là dạy học rồi sẽ tìm cách hoạt động chính trị sau”.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính quyền thân Nhật mời ông cộng tác. Sau khi tham khảo và được sự chấp thuận của Xứ ủy, Phạm Văn Bạch tham gia chính quyền thân Nhật với cương vị Chánh Tòa tỉnh Bến Tre. Khi Thanh niên Tiền phong được thành lập, Tiến sĩ Phạm Văn Bạch được cử vào nhóm thủ lĩnh của lực lượng ở Bến Tre. Với vai trò nây, ông đã góp phần quan trọng vào sự thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 tại Bến Tre, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh. Sau đó, ông được đề cử giữ nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh Bến Tre và được cử tri tỉnh nầy tín nhiệm bầu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946.

Đầu tháng 9/1945, theo sự phân công của Trung ương Đảng trên cơ sở sự nhất trí quyết nghị của Mặt trận Việt Minh, đồng chí Phạm Văn Bạch được đề cử giữ trọng trách Chủ tịch Ủy ban nhân dân Nam bộ vừa được củng cố lại để đáp ứng nhiệm vụ đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Trong Ủy ban nầy còn có Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Ung Văn Khiêm, Phạm Ngọc Thạch, Ngô Tấn Nhơn, Từ Bá Đước...

Trên cương vị người đứng đầu chính quyền Nam bộ, ngày 23/9/1945, đồng chí Phạm Văn Bạch dẫn đầu phái đoàn Dân Chính Đảng về Sóc Trăng thăm và ủy lạo đoàn cựu tù chính trị Côn Đảo vừa được rước về đất liền trên đoàn tàu Phú Quốc. Trong đó, có các đồng chí Lê Duẫn, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Phan Trọng Tuệ, Lê Đức Thọ, Phạm Thái Bường, Dương Công Nữ... Ngày đưa Bác Tôn lên đường về vùng cực Nam Trung bộ, Chủ tịch Phạm Văn Bạch nhớ mãi lời người anh cả căn dặn: “... Ở đây, chú dựa vào đồng bào ta mà sống và hoạt động”.

Ngay sau khi đón các cựu tù Côn Đảo, Chủ tịch Pham Văn Bạch cùng phái đoàn về tới Sài Gòn cũng là lúc thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Nam kỳ. Chúng tấn công trụ sở Ủy ban nhân dân Nam bộ và các đồn Quốc gia tự vệ cuộc. Theo chủ trương của Xứ ủy và Uv ban, Pham Văn Bach rời Sài Gòn, xuống Mỹ Tho rồi vào bưng biền Đồng Tháp, lập Tổng khu căn cứ chỉ đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam bộ.

Ngày 16/02/1946, theo yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ, Phạm Văn Bạch dẫn đầu phái đoàn Nam bộ gồm 10 người (trong đó có Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Tạo, Ngô Tấn Nhơn, Ngô Thị Huệ, Diệp Ba...) lên đường ra Bắc để báo cáo tình hình chiến sự ở Nam bộ. Ròng rã gần 4 tháng trời từ Tháp Mười xuống Cà Mau, vòng đường biển qua Thái Lan rồi đáp chuyến tàu Anh trở lại Sài Gòn, qua Hồng Kông... mãi đến ngày 06/6/1946, đoàn mới đặt chân lên cảng Hải Phòng, Ngày hôm sau, Trung ương Đảng cử đồng chí Võ Nguyên Giáp ra đón tiếp phái đoàn cũng như tiếp nhận báo cáo. Đặc biệt, ngày 29/6/1946, Phạm Văn Bạch được kết nạp vào Đảng tại Chi bộ Trần Hưng Đạo, Chi bộ của Bác Hồ theo sự giới thiệu của hai đồng chí Phạm Ngọc Thạch và Ngô Tấn Nhơn. Buổi lễ kết nạp do Bác Hồ và Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp chủ trì. Về sự kiện nầy, trong hồi ký của mình, Tiến sĩ Phạm Văn Bạch viết: “Ngày 29/6/1946, vinh hạnh cao nhất đời tôi đã đến, nguyện vọng cao nhất đời tôi đã được thực hiện: Tôi được kết nạp vào Đảng”.

Thời gian ở miền Bắc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Nam bộ Phạm Văn Bạch được cử làm Trưởng phái đoàn nhân dân đón Hồ Chủ Tịch khi Người đi dự Hội nghị Fontainnebleau về tới Hải Phòng. Sau đó, ông tham gia Hội nghị Chủ tịch và một số Ủy viên UBND ba kỳ dưới sự chủ trì của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Nội vụ để bàn về tình hình cũng như vạch ra đối sách góp phần đưa cách mạng nước ta bước qua giai đoạn khó khăn nhất.

Nguồn: Nhân vật chí tỉnh Trà Vinh, Sở Văn hóa Thông tin phát hành năm 2000, trang 150, 151, 152,153,154,155,156.

Kỷ yếu nhân vật và sự kiện lịch sử huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh giai đoạn 1930 - 1975, trang 59 - 68.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn