Bài viết

TIẾNG BOM CÒN VẲNG TRONG ÔNG TÔI

Đà Nẵng14/12/2025Dương Ngọc Bảo Trân (Đoàn trường THPT Thái Phiên, phường Thanh Khê)8 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi tôi còn nhỏ, những buổi tối mất điện đột ngột luôn là khoảnh khắc tôi chờ đợi. Vì đó là lúc bà tôi - người đàn bà lam lũ của đất Phú Lộc, Huế - ngồi xuống cạnh tôi, dùng giọng trầm đều kể lại những câu chuyện mà bà gọi là “kí ức của một thời ai cũng phải đi qua”. Bà không phải nhà nghiên cứu, cũng chưa từng cắp sách đến trường như bao người. Nhưng những câu chuyện bà mang theo - những cảnh mắt thấy tai nghe - lại là những trang sử sống động và chân thật nhất mà tôi từng biết.Và trong tất cả những câu chuyện ấy, nổi bật nhất vẫn là cuộc đời ông tôi - một người con của đất Phú Lộc, một người đã rời quê hương Huế đến Đà Nẵng giữa những năm tháng chiến tranh chống Mỹ đang bước vào giai đoạn khốc liệt, để góp một phần nhỏ bé vào cuộc đấu tranh giành lại độc lập.

Theo lời bà kể, những năm 1950 - 1960, Phú Lộc là vùng đất “gần chiến trường, xa yên bình”. Dân làng sống giữa những đồn bốt chằng chịt, những chuyến càn quét bất ngờ và nỗi lo triền miên về bom đạn.Ông tôi sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh ấy. Từ nhỏ, ông đã chứng kiến cảnh quê nhà bị tàn phá, người dân bị chia cắt, những người trẻ lần lượt đi theo cách mạng. Chính điều đó hun đúc trong ông một ý chí mạnh mẽ: phải làm điều gì đó cho quê hương mình.

Bà tôi bảo:

“Ông bay đi không phải vì ham gì cho bản thân. Ổng đi vì quê mình khổ quá.”

Đó là câu nói khiến tôi thấm thía về cái lý tưởng giản dị của những con người bình thường mà kiên cường. Nghe bà nói như thể lời hậu phương, nói lên tất cả những sự lo lắng, mong chờ mà không dám kể cho ai. Bà kể tôi nghe mà cứ càng sướng lâng lâng cả người, tôi sướng khi ông tôi dũng cảm, tôi sướng vì tôi tự hào

Rồi khi chính nhân chứng lịch sử - ông tôi kể thì lòng tôi như phá tan sự sung sướng mà muốn khoe cho mọi người rằng “ Tôi có người ông như thế đấy”. Khi ngồi kể chuyện cho tôi, ông không bao giờ dùng những lời hoa mỹ. Chỉ là những câu nói giản dị, nhưng ẩn sau đó là cả một bầu trời ký ức mà đôi lúc, ông phải dừng lại, đưa tay lên tai như nghe tiếng gì vọng về từ quá khứ. Ông nói nghe mà vừa thương vừa tự hào:

“Con biết không, tiếng bom là thứ âm thanh ông không còn nghe rõ nữa, nhưng ký ức về nó thì chưa bao giờ tắt.”

Ông tôi sinh ra ở vùng Phú Lộc - nơi có núi, có biển, có những buổi chiều gió Lào thổi hun hút qua đồi sim tím. Tuổi thơ của ông gắn với tiếng sáo diều trên đồng, với dòng nước trong veo của suối Mơ. Thế nhưng, ước mơ về một cuộc đời yên bình ấy không kéo được ông ở lại khi đất nước chìm trong khói lửa. Bà kể, năm 1966, khi vừa tròn mười bảy tuổi, tiếng gọi của Tổ quốc mạnh hơn mọi nỗi sợ. Đêm tiễn ông đi, bà cố tôi chỉ nắm lấy tay con mà không nói nổi câu nào. Ông đi trong tiếng gió hun hút của đèo Phú Gia, lòng thầm hứa:

“Khi nào đất nước bình yên, tui về… còn sống là tui về.”

Thuở mười bảy đôi mươi, khi đất nước chìm trong khói lửa, tiếng gọi của Tổ quốc đã đưa ông rời khỏi làng quê Phú Lộc yên bình. Bà kể, ngày ấy người trẻ chỉ có hai con đường: hoặc khoanh tay đứng nhìn, hoặc bước vào chiến trường. Và ông đã chọn con đường thứ hai. Đơn vị của ông được điều về Đà Nẵng - vùng đất chiến lược trọng yếu nơi Mĩ - ngụy đổ quân rầm rộ. Những năm tháng chiến đấu tại Hòa Vang, Sơn Trà, Liên Chiểu đã in đậm vào ký ức ông bằng những trận đánh giằng co, những đêm nằm sát giao thông hào chỉ nghe tiếng bom mà không biết ngày mai còn sống hay không. Với ông, đó không chỉ là một quyết định, mà là lời thề của một người con đất Việt. Ngày ông đi, là ngày mà người yêu của ông - bà tôi chỉ dám nhìn từ xa, tay không dám nắm, người không dám ôm. Vì làm thế, ông nhớ, bà nhớ, người nhớ người thì làm sao mà đi không trong nước mắt được.

Bà kể, Đà Nẵng ngày ấy là nơi Mĩ đổ quân rầm rộ, dựng căn cứ dọc bờ biển, bố trí sân bay, kho đạn, kho xăng. Người dân sống trong cảnh bom đạn bất kể ngày đêm. Ông của tôi cùng đơn vị hoạt động ở vùng ven như Hòa Vang, phía núi Sơn Trà, nơi đường mòn rậm rạp che chở họ trong những ngày hành quân. Bà bảo: “Ông mi đi trong đêm, không thấy đường mà chỉ thấy ánh pháo sáng quét ngang bầu trời. Ngủ thì trong giao thông hào, ăn thì chỉ vài hạt cơm với muối mà lòng vẫn cứng như thép.”

Thời ông hoạt động ở Đà Nẵng, khó nhất không phải những lần chuyển tin, mà là những đêm chuẩn bị “đánh đồn” - đánh vào các cứ điểm kiểm soát. Ông không trực tiếp cầm súng, nhưng được gọi là “mắt đường”, dẫn lối cho đơn vị chủ lực băng qua các lối mòn ít ai biết, tránh điểm gác và đèn pha soi quét. “Mỗi bước đi đều phải nhớ từng gốc cây, từng đoạn cát lún,”, “chỉ sơ sảy là cả đội gặp nguy.”

Trong một đêm đánh đồn gần vùng Hòa Vang, ông cùng đồng đội ém mình chờ tín hiệu. Không gian căng như dây đàn: chỉ nghe tiếng côn trùng và tiếng sóng từ xa. Khi lực lượng chủ lực bắt đầu áp sát, ông dẫn nhánh quân công tác vòng sau để cắt đường rút của đối phương. Ông nhớ rõ nhịp tim của mình đập nhanh đến mức nghe rõ trong tai. Rồi bất ngờ, một loạt ánh sáng lóe lên từ phía đồn – tín hiệu cho thấy trận đánh đã bắt đầu. Ông và các đồng đội chỉ có thể lao lên theo đúng phương án đã vạch ra, dựa vào niềm tin lẫn nhau. “Không ai nói một lời,” ông nhớ lại, “chỉ có quyết tâm và hy vọng giữ được mạng cho nhau.”

Trong một trận đánh gần một căn cứ địch, tiếng bom nổ lớn đến mức mặt đất rung lên. Sức ép khiến ông bị mất thính lực một bên tai. Từ đó về sau, mỗi khi trời gió mạnh hay đêm xuống im ắng, tai ông lại ù đi, như thể tiếng bom năm ấy vẫn còn đuổi theo. Bà nói: “Ông mày không bao giờ than đau. Ổng chỉ bảo chiến tranh là vậy, ai còn sống đã là may mắn”. Có lần tôi hỏi vào tai ông “ Có bao giờ ông trách chiến tranh đã khiến ông không còn nghe rõ không?”, lúc đó ông chỉ mỉm cười và nói rằng “Mất mát là chuyện của cả một thời. Còn được sống để kể lại, là một cái may của mình”. Thế đấy, mà lòng tôi nhói hết cả lên.

Bà kể rằng buổi sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975 là buổi sáng mà ông không bao giờ quên được trong đời lính của mình. Đà Nẵng khi ấy vẫn còn khói mỏng lẩn khuất trên mấy khu phố, nhưng tiếng súng thì đã thưa dần rồi tắt hẳn. Con đường ven sườn đồi Sơn Trà - nơi ông và đồng đội từng chạy trong bao nhiêu căng thẳng - hôm ấy lại vang lên tiếng reo mừng của dân. Người ta từ trong hầm, trong nhà ùa hết ra, tay cầm cờ, có người cầm bó nhang, có người chỉ có cái nón lá rách mà vẫn vẫy mãi về phía bộ đội. “Mừng rứa mà không ai khóc cả”, “vì mừng đến độ nước mắt cũng như bị gió cuốn mất tiêu”. Bà bảo rằng mỗi lần kể lại, mắt ông vẫn sáng lên khi nhắc đến khoảnh khắc lá cờ cách mạng tung bay trên tòa nhà hành chính cũ ở trung tâm thành phố. Tai ông lúc đó đã ù đi vì mấy trận nổ trước đó, nhưng ông vẫn nghe được tiếng hò reo như sóng dội về. “Không phải nghe bằng tai nữa” ông cười, “mà nghe bằng tim”

Ông từng kể với bà rằng ông đứng gần cầu Sông Hàn, nhìn dòng người từ khắp nơi tuôn ra. Có người chạy vừa cười, có người nắm tay bộ đội không chịu buông. Nhà cửa mở cửa trở lại, cờ đỏ được móc vội lên từ những mái nhà còn mùi khói. Trẻ con chạy theo xe quân giải phóng mà hô to: “Sống rồi! Sống rồi!”. Hôm đó nắng nhẹ, gió biển mang vị mặn hòa vào mùi đất còn hơi khói. Tất cả bình dị, nhưng trong sự bình dị ấy là một niềm vui thiêng liêng đến khó tả. “Đà Nẵng sạch bóng quân thù rồi,” ông đã nói với bà bằng giọng run run. “Ngày đó tau biết mình sẽ sống để trở về.”

Đêm hôm đó, ông với mấy người đồng đội ngồi trên bãi cát Non Nước, nhìn thành phố sáng lên từng đốm đèn như thắp lại hy vọng mới. Không ai nói chi nhiều, nhưng ai cũng biết trước mặt họ là một tương lai khác - tương lai mà cả tuổi trẻ của họ đã đổi lấy. Bà kể, chính từ khoảnh khắc Đà Nẵng giải phóng ấy, ông biết cuộc đời mình đã sang một trang mới: trang trở về Huế, trở về với bà - người đã chờ ông gần mười năm trời.

Hình ảnh: Ông lại được nhắc đến lần nữa trong đại hội địa phương
Đến khi về đến quê, ông được địa phương tổ chức buổi tuyên dương những chiến sĩ trẻ lập công trong chiến dịch ở Đà Nẵng. Ông không quen với ánh mắt ngưỡng mộ của bà con, cũng không quen với những tràng pháo tay. Ông chỉ đứng lặng, tay vẫn run vì dư âm trận mạc, tai vẫn còn ù đi vì tiếng nổ chưa kịp nguôi. Nhưng tấm giấy khen và câu nói mộc mạc của chú Bí thư xã - “Cậu là niềm tự hào của Phú Lộc” - đã khiến ông bất giác rưng rưng. Không lâu sau, ông được nhận vào lực lượng Công an Huế, tiếp tục gắn tuổi trẻ của mình với nhiệm vụ giữ gìn bình yên cho quê hương vừa hồi sinh sau chiến tranh.

Và nơi bến nước trước nhà, bà - người con gái năm ấy từng tiễn ông lên đường bằng lời hứa sẽ đợi - vẫn đứng đó. Bà không được đi học đến nơi đến chốn, chữ viết chỉ đủ để gửi vài dòng ngắn ngủi cho ông trong thời chiến: “Em khỏe. Em đợi anh.” Nhưng chính bà là sợi chỉ đỏ nối ông với quê nhà, với điều bình yên mà ông đã chiến đấu để giữ lấy.

Hình ảnh: Ông tôi trở về căn nhà cùng bà sau những ngày ở bệnh viện

Ký ức chiến tranh của ông tôi không chỉ nằm lại ở những bãi cát vàng Đà Nẵng năm xưa, mà còn sống dậy mỗi khi thành phố này rực rỡ cờ hoa trong ngày 29 tháng 3, ngày giải phóng thành phố Đà Nẵng. Giờ tôi đang ở Đà Nẵng, và năm nào cũng vậy, cứ đến lễ giải phóng là ông lại bảo ba tôi đưa ông về thăm. Ông đứng thật lâu bên cầu Rồng, nhìn về phía bán đảo Sơn Trà – nơi từng vọng tiếng trực thăng địch; rồi nhìn xuống dòng sông Hàn đã hiền hòa trở lại. Ông nói không phải để kể công, mà để nhớ những đồng đội đã ngã xuống và để biết rằng thành phố này đã đổi thay bằng máu, bằng tuổi trẻ của cả một thế hệ.

Giờ đây, mái tóc ông đã bạc như sương Phú Lộc. Bên tai vẫn còn tiếng ù của bom đạn năm nào, nhưng ông vẫn minh mẫn, vẫn nhớ rõ từng địa danh, từng gương mặt đồng đội. Bà bảo: “Ổng còn nhớ rõ hơn cả ngày cưới với tau nữa.” Mỗi lần được nhắc lại chuyện cũ, bà nhìn ra ngoài sân, nơi gió núi thổi nhẹ qua những hàng cau, rồi thở dài: “Có những thứ người lính mang về từ chiến tranh, cả đời cũng không rời được.”

Nghe bà kể, tôi hiểu rằng “tiếng bom còn vẳng trong tôi” không chỉ là tiếng vọng của quá khứ trong tai ông, mà còn là trong lòng bà – người phụ nữ đã đi suốt đời bên ông, làm chỗ dựa cho những vết thương chiến tranh không nhìn thấy bằng mắt thường. Câu chuyện của ông và lời kể của bà khiến tôi nhận ra: lịch sử không phải là những trang sách xa xôi mà là những cuộc đời thật, những con người thật. Những người lính như ông – và những người hậu phương như bà – đã viết nên lịch sử bằng cả tuổi trẻ, niềm tin và sự bền bỉ.

Bà khép lại câu chuyện bằng câu nói mà tôi nhớ mãi:

“Chiến tranh qua rồi, nhưng từng người sống qua nó là một trang sử sống. Ông mày là một trong những người như rứa đó con.”

Và chừng nào ông còn sống, còn đứng được trên mảnh đất Đà Nẵng này, thì chừng đó lịch sử vẫn còn được nhắc lại - bằng giọng kể chậm rãi của ông bà, và bằng sự trân trọng của thế hệ sau như tôi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
TIẾNG BOM CÒN VẲNG TRONG ÔNG TÔI | Câu chuyện thời hoa lửa