Anh hùng Lực lượng vũ trang

TIẾNG BÚT SẮT TRÊN MẢNH VỎ ĐẠN VÀ KHÚC TRÁNG CA CỦA ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÊ ANH XUÂN

Cần Thơ10/08/2026Xã Nghĩa Đồng (Đoàn xã Nghĩa Đồng)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

TIẾNG BÚT SẮT TRÊN MẢNH VỎ ĐẠN VÀ KHÚC TRÁNG CA CỦA ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÊ ANH XUÂN

Lịch sử chiến tranh không chỉ được viết bằng những trang bản đồ hành quân chi chít ký hiệu, bằng tiếng súng đại bác rền vang hay những chiến công lẫy lừng trên mặt trận lớn. Nó còn được chắt chiu, bồi đắp bởi những tâm hồn nghệ sĩ lớn đã đem cả ngọn lửa đam mê, tài năng và máu xương của mình hòa vào dòng chảy khốc liệt của dân tộc. Có những nhà thơ cầm súng ra trận, lấy vần thơ làm vũ khí và lấy chính cuộc đời mình để viết nên những câu chữ bất tử. Bài viết này là một lát cắt cận cảnh, đượm chút hoài niệm da diết và xót xa về Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Lê Anh Xuân – người chiến sĩ, nhà thơ tài hoa đã gửi trọn tuổi hai mươi của mình lại vùng đất bưng biền Nam Bộ khói lửa.

Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Kha, sinh năm 1940 tại xã Tân Quy Tây, huyện Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước có truyền thống cách mạng, từ nhỏ Ca Lê Kha đã nổi tiếng là một học sinh thông minh, có năng khiếu văn chương đặc biệt và tâm hồn lãng mạn sâu sắc. Những năm đầu thập niên 1960, anh theo gia đình tập kết ra Bắc, theo học tại Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Là một sinh viên xuất sắc với tương lai rộng mở, anh có tất cả những điều kiện thuận lợi để tiếp tục con đường học thuật hoặc sống một cuộc đời bình yên nơi hậu phương. Nhưng khi tiếng gọi của miền Nam ruột thịt vang lên, giục giã từng nhịp đập con tim, Lê Anh Xuân đã viết đơn tình nguyện rời miền Bắc, vượt Trường Sơn trở về chiến trường miền Nam trực tiếp chiến đấu.

Trở về quê hương trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, anh được biên chế về Ban Tuyên huấn miền, công tác tại Tiểu ban Văn nghệ thuộc Khu ủy miền Tây rồi chuyển về Sài Gòn - Gia Định. Không chỉ cầm súng tham gia chiến đấu trong các đợt càn quét của địch, anh còn dùng ngòi bút sắc bén của mình để ghi lại chân thực, sống động và hào hùng những đau thương, mất mát nhưng vô cùng kiêu hãnh của đồng bào, đồng chí nơi tuyến đầu. Chính trong những ngày tháng gian khổ bám trụ bưng biền ấy, bút danh Lê Anh Xuân ra đời, gắn liền với những vần thơ bốc cháy lòng người, tiêu biểu như bài thơ nổi tiếng Dáng đứng Việt Nam – tác phẩm mang tầm vóc sử thi đã tạc vào lịch sử hình ảnh người chiến sĩ giải phóng quân hiên ngang ngã xuống mà dáng đứng vẫn hóa thân thành tượng đài độc lập của dân tộc.

Đêm ngày 24/5/1968, trong một chuyến đi thực tế sáng tác và bám sát phong trào chiến đấu của lực lượng vũ trang tại vùng ven xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, Lê Anh Xuân cùng tổ công tác bất ngờ rơi vào ổ phục kích của một tiểu đoàn lữ đoàn kỵ binh bay Mỹ. Trận càn diễn ra với hỏa lực vô cùng tối tân, bom pháo dội liên tục xuống khu vực rạt dừa nước.

Nhận thấy tài liệu sáng tác, các tập bản tho thơ văn cùng bản đồ hành quân của cơ quan đang nằm trong túi đựng bị kẹt lại ngay đường giao thông hào chính đang hứng chịu làn đạn trốc gốc cây, Lê Anh Xuân không một chút do dự. Anh dũng cảm lao ra khỏi hầm trú ẩn để thu gom, bảo vệ những đứa con tinh thần mà anh đã chắt chiu bằng cả mồ hôi và tâm huyết.

Một loạt đợt pháo cối từ xa dội trúng vị trí anh đang đứng. Lê Anh Xuân vĩnh viễn nằm lại ở tuổi 28 xuân xanh trên mảnh đất Củ Chi anh dũng, để lại dở dang những vần thơ còn đang viết và hoài bão lớn lao của một đời người nghệ sĩ chiến sĩ. Khi đồng đội tìm thấy thi thể anh, trong chiếc túi sờn rách bên ngực áo, bên cạnh mấy mẩu bút chì và cuốn sổ tay đẫm máu, vẫn còn nguyên vẹn những trang thơ viết vội về ngày mai chiến thắng.

Năm 2011, Nhà nước đã truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho Lê Anh Xuân, tôn vinh những cống hiến đặc biệt xuất sắc của anh cả trên mặt trận cầm súng lẫn mặt trận văn hóa nghệ thuật. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng rực rỡ ánh hào quang của Lê Anh Xuân mãi là khúc tráng ca đẹp đẽ, nhắc nhở thế hệ mai sau về một thời kỳ mà văn thơ và máu xương đã hòa quyện làm một để tạc nên hình hài Tổ quốc hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn