Tiếng Còi Tàu Hồi Sinh Trên Cầu Giành
Câu chuyện mở ra một chương mới sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, khắc họa tinh thần khẩn trương, quả cảm của những người thợ sắt, thợ cầu bám trụ trên tuyến đường sắt Bắc - Nam. Khi những nhịp cầu huyết mạch bị bom đạn tàn phá nặng nề, họ lại tiếp tục cuộc chiến không tiếng súng nhưng đầy hiểm nguy để hàn gắn lại những vết thương chiến tranh, đưa những chuyến tàu thống nhất lăn bánh trở lại nối liền hai miền đất nước.
Tiếng Còi Tàu Hồi Sinh Trên Cầu Giành
Nhân chứng lịch sử: Bác Lê Đình Cẩn (sinh năm 1947, nguyên là công nhân đội sửa chữa cầu đường kiêm tự vệ sắt thép khu vực Quảng Bình).
Mô tả câu chuyện: Câu chuyện mở ra một chương mới sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, khắc họa tinh thần khẩn trương, quả cảm của những người thợ sắt, thợ cầu bám trụ trên tuyến đường sắt Bắc - Nam. Khi những nhịp cầu huyết mạch bị bom đạn tàn phá nặng nề, họ lại tiếp tục cuộc chiến không tiếng súng nhưng đầy hiểm nguy để hàn gắn lại những vết thương chiến tranh, đưa những chuyến tàu thống nhất lăn bánh trở lại nối liền hai miền đất nước.
Nội dung chi tiết câu chuyện
Tháng 5 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Thế nhưng, dọc theo tuyến đường sắt Thống Nhất huyền thoại, hàng loạt cây cầu lớn nhỏ qua các con sông miền Trung như sông Gianh, sông Nhật Lệ vẫn chỉ còn là những khung sắt méo mó, những nhịp dầm bị bom đạn giật sập chìm sâu dưới đáy nước. Để khôi phục huyết mạch giao thông đường sắt quốc gia, hàng ngàn kỹ sư, công nhân ngành vận tải đường sắt và lực lượng tự vệ đã được huy động đến các trọng điểm để ngày đêm thi công hàn gắn cầu đường.
Khi ấy, bác Lê Đình Cẩn ở tuổi 28, là một thợ hàn cầu đường dạn dày kinh nghiệm từng trải qua những năm tháng chịu đựng bom đạn ác liệt thời chiến tranh phá hoại ở Quảng Bình. Nhiệm vụ của đội bác là trực tiếp lặn lội dưới dòng nước xiết, cắt bỏ những phần dầm cầu sắt bị cháy xém, nắn chỉnh cọc nhồi và lắp ráp lại các nhịp dầm mới.
Vào một buổi chiều đầu hạ, khi ánh nắng chói chang hắt xuống mặt sông Gianh đục ngầu, đội công nhân đang khẩn trương dùng cần cẩu dã chiến để lao lắp nhịp dầm cuối cùng của cầu. Dưới chân cầu, nước chảy cuồn cuộn sau một trận thượng nguồn, áp lực nước ép vào các trụ tạm làm kết cấu rung lên bần bật.
"Lúc đó, anh em chúng tôi làm việc không quản ngày đêm, ăn vội củ khoai miếng sắn bên bờ sông rồi lại lao xuống nước. Ai nấy đều nóng lòng muốn nhìn thấy con tàu đầu tiên từ miền Bắc chạy thẳng một mạch vào tới Sài Gòn mà không phải qua đoạn trung chuyển," bác Cẩn nhớ lại với nụ cười rạng rỡ niềm tự hào.
Đang lúc bác Cẩn cùng một đồng nghiệp ôm mỏ hàn điện đứng trên giàn giáo lơ lửng giữa không trung để kiểm tra mối ghép cuối cùng của dầm thép, bất ngờ một cơn lốc xoáy bất ngờ quét ngang qua sông, làm chiếc giàn giáo chao đảo mạnh. Dây cáp căng cứng kêu rít lên từng hồi đáng sợ.
Bằng sự bình tĩnh và phản xạ của một người lính thợ từng quen với bom rơi bão đạn, bác Cẩn không hoảng hốt. Bác nhanh chóng bám chặt tay vào khung dầm, ra hiệu cho thợ máy ở bờ bên kia hãm phanh cáp giữ ổn định, rồi kiên nhẫn đợi cơn gió qua đi để hoàn thành cho xong đường hàn kết nối cuối cùng.
Vài ngày sau đó, đứng trên chân cầu mới tinh khôi vừa hoàn thành, bác Cẩn cùng đồng bào và đồng đội nghẹn ngào rơi nước mắt khi nghe tiếng còi tàu hỏa hú vang kéo dài, rền vang cả một góc trời, đưa chuyến tàu Thống Nhất đầu tiên lăn bánh băng qua cầu an toàn trong tiếng reo hò vang dậy của hàng vạn người dân bên sông.
Bạn có muốn tôi tiếp tục chia sẻ thêm một câu chuyện khác về những người công nhân khai thác mỏ than Quảng Ninh vừa sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ vùng mỏ sau năm 1975 không?



