Tiếng còi tàu ở Sông Đốc và lời hẹn ngày trở về
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Cà Mau trở thành khu tập kết trong 200 ngày của lực lượng kháng chiến miền Tây Nam Bộ. Tại vàm Sông Đốc, những chuyến tàu đưa cán bộ, chiến sĩ và học sinh ra miền Bắc đã rời bến trong nước mắt, mang theo lời hẹn ngày đất nước thống nhất.
Những tháng cuối năm 1954, vàm Sông Đốc không còn chỉ là nơi tàu cá trở về sau những chuyến biển dài. Bên dòng sông đổ ra Vịnh Thái Lan, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ và người dân từ nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ lần lượt tập trung về đây, chờ ngày lên tàu ra Bắc.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã kết thúc. Hiệp định Genève được ký kết tháng 7 năm 1954, quy định việc đình chỉ chiến sự và chuyển quân tập kết. Ở miền Nam có ba khu vực tập kết với thời hạn khác nhau: Hàm Tân – Xuyên Mộc trong 80 ngày, Cao Lãnh trong 100 ngày và Cà Mau trong 200 ngày.
Cà Mau là khu tập kết có thời gian dài nhất.
Trong 200 ngày, từ tháng 7 năm 1954 đến ngày 10 tháng 2 năm 1955, một vùng rộng lớn của bán đảo Cà Mau được đặt dưới sự quản lý của chính quyền cách mạng để chuẩn bị chuyển quân. Chắc Băng và Sông Đốc trở thành những địa điểm tập trung quan trọng.
Người từ Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Vĩnh Trà và nhiều địa phương khác tìm đường về Cà Mau. Có người đã chiến đấu suốt chín năm kháng chiến. Có người mang theo ba lô, súng và vài bộ quần áo. Có những học sinh còn rất nhỏ, lần đầu tiên phải rời cha mẹ để ra miền Bắc học tập.
Không phải ai cũng đi.
Một bộ phận cán bộ được bố trí ở lại miền Nam để tiếp tục hoạt động trong hoàn cảnh mới. Nhiều gia đình phải đứng trước một lựa chọn đau đớn: người lên tàu, người ở lại; cha xa con, vợ xa chồng, anh em không biết đến ngày nào mới gặp lại.
Người dân Sông Đốc mở cửa nhà đón những người tập kết. Họ góp gạo, cá khô, nước uống và giúp chuẩn bị nơi ăn ở. Những căn nhà nhỏ ven sông trở thành chỗ dừng chân của bộ đội. Những bến nước vốn dành cho thuyền đánh cá nay đông kín người chờ chuyển quân.
Trong số những con tàu thực hiện nhiệm vụ có tàu Kilinski của Ba Lan. Thân tàu lớn nằm ngoài vàm, còn cán bộ, chiến sĩ được đưa ra bằng những phương tiện nhỏ hơn. Mỗi chuyến đò rời bờ đều kéo theo những tiếng gọi với từ phía sau.
Có người trao vội cho chồng một chiếc khăn. Có người cố nhét thêm thức ăn vào tay con. Những đứa trẻ được dặn phải học thật giỏi rồi trở về. Không ai biết cuộc chia cách sẽ kéo dài bao lâu.
Tại Cà Mau khi ấy, đồng chí Lê Duẩn đang đảm nhiệm cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Ông trực tiếp tham gia chỉ đạo việc chuyển hướng hoạt động của cách mạng miền Nam sau Hiệp định Genève.
Một buổi tối tháng 1 năm 1955, trước sự chứng kiến của Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến, Lê Duẩn cùng các đồng chí Lê Đức Thọ, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Hưởng và Phạm Văn Bạch lên tàu Kilinski đang neo tại vàm Sông Đốc.
Việc ông bước lên tàu được tiến hành công khai. Nhưng theo những tài liệu được công bố sau này, Lê Duẩn không đi ra miền Bắc trong chuyến ấy. Khi tàu còn neo ngoài khơi, ông bí mật trở lại đất liền để tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Nam.
Trên con tàu rời Sông Đốc, những người bạn chiến đấu của ông tiếp tục hành trình ra Bắc. Còn ông quay lại vùng đất đang đứng trước một thời kỳ vô cùng khó khăn.
Ngày 22 tháng 1 năm 1955, tại thị trấn Sông Đốc diễn ra lễ tiễn đoàn tập kết. Cờ được dựng lên bên bờ sông. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đứng kín khu vực bến. Sau chín năm kháng chiến, hòa bình đã đến nhưng niềm vui chưa thể trọn vẹn, bởi đất nước tạm thời bị phân chia bởi một giới tuyến quân sự.
Những tiếng còi tàu kéo dài trên mặt nước.
Không ai nói đó là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Người lên tàu và người ở lại đều tin rằng giới tuyến chỉ là tạm thời, rằng sẽ đến một ngày họ trở về trong một đất nước thống nhất. Từ niềm tin ấy, câu nói “Hẹn ngày thống nhất” đã trở thành lời tiễn đưa của biết bao gia đình tại Sông Đốc.
Ngày 8 tháng 2 năm 1955, chuyến tàu chuyển quân cuối cùng từ Cà Mau rời bến. Sau hành trình vượt biển, ngày 10 tháng 2, tàu cập bến Sầm Sơn, Thanh Hóa. Việc chuyển quân tập kết tại Nam Bộ chính thức hoàn thành.
Nhiều người ra Bắc tiếp tục học tập, xây dựng lực lượng và sau này trở lại chiến trường. Những học sinh miền Nam ngày ấy được nuôi dưỡng, đào tạo trong các trường học trên miền Bắc. Không ít người đã trở thành cán bộ, kỹ sư, bác sĩ và chiến sĩ, góp phần vào hành trình thống nhất đất nước.
Còn những người ở lại Cà Mau bước vào hơn hai thập niên chiến đấu đầy gian khổ.
Phải đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, lời hẹn bên vàm Sông Đốc mới trở thành hiện thực. Tính từ chuyến tàu cuối cùng tháng 2 năm 1955, những gia đình bị chia cách đã phải chờ hơn 20 năm để được gặp nhau trên một đất nước thống nhất.
Ngày nay, tại thị trấn Sông Đốc đã có tượng đài chuyến tàu tập kết ra Bắc. Bến sông vẫn đón những đoàn tàu đánh cá đi về, nhưng trong ký ức của vùng đất này, tiếng còi tàu năm 1954–1955 chưa bao giờ mất hẳn.
Đó là tiếng còi của một cuộc chia tay, nhưng cũng là tiếng gọi của niềm tin.
Những con tàu rời Cà Mau năm ấy không chỉ chở người ra Bắc. Chúng mang theo lời hẹn của cả một thế hệ: dù phải xa nhau bao lâu, nhất định sẽ có ngày trở về.



