Cựu chiến binh

TIẾNG CÒI TÀU VÀ NHỮNG DÒNG THƯ TRONG HẦM BỌT

NỐI DÒNG KÝ ỨC: TIẾNG CÒI TÀU VÀ NHỮNG DÒNG THƯ TRONG HẦM BỌT Nhân chứng lịch sử: Ông Trịnh Văn Tuyến (sinh năm 1949, cựu chiến binh Đại đội 1, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27, Quân đoàn 8). Mô tả câu chuyện: Nếu như quãng đời thanh xuân của những nữ thanh niên xung phong gắn liền với cuốc xẻng và mặt đường dốc đá, thì ký ức hoa lửa của những người lính bộ binh lại đậm sâu vết dấu của những trận giáp lá ngỏm dưới hào giao thông và những phút dừng chân hiếm hoi giữa hai ranh giới sống - chết. Câu chuyện khắc họa quãng nghỉ ngắn ngủi của ông Trịnh Văn Tuyến cùng đồng đội tại chiến trường Quảng Trị năm 1972, nơi tình đồng chí và niềm tin hòa bình vượt lên trên sự tàn khốc của đạn bom.

Ninh Bình16/09/2026Đoàn xã Hải Lựu (Đoàn xã Hải Lựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

NỐI DÒNG KÝ ỨC: TIẾNG CÒI TÀU VÀ NHỮNG DÒNG THƯ TRONG HẦM BỌT

Nhân chứng lịch sử: Ông Trịnh Văn Tuyến (sinh năm 1949, cựu chiến binh Đại đội 1, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27, Quân đoàn 8).

Mô tả câu chuyện:

Nếu như quãng đời thanh xuân của những nữ thanh niên xung phong gắn liền với cuốc xẻng và mặt đường dốc đá, thì ký ức hoa lửa của những người lính bộ binh lại đậm sâu vết dấu của những trận giáp lá ngỏm dưới hào giao thông và những phút dừng chân hiếm hoi giữa hai ranh giới sống - chết. Câu chuyện khắc họa quãng nghỉ ngắn ngủi của ông Trịnh Văn Tuyến cùng đồng đội tại chiến trường Quảng Trị năm 1972, nơi tình đồng chí và niềm tin hòa bình vượt lên trên sự tàn khốc của đạn bom.

Nội dung chi tiết:

Mùa hè đỏ lửa năm 1972 tại mặt trận Quảng Trị, không khí hanh khô và khét lẹt mùi thuốc súng. Căn hầm bọt – loại hầm chìm đắp bằng bao cát và gỗ gụ – của A đội 1 chỉ rộng chưa đầy bốn mét vuông nhưng là nơi trú ngụ của năm người lính trẻ. Ngoài kia, tiếng pháo cầm chừng từ hạm đội Mỹ ngoài biển vẫn dội vào đều đặn theo từng chu kỳ mười lăm phút.

Chiều hôm đó, tranh thủ khoảng nghỉ ngắn giữa hai đợt phản công của địch, Trịnh Văn Tuyến rút từ gầm balo ra chiếc nhật ký bằng giấy pơ-luê đã ố vàng. Bên cạnh ông, người đồng đội tên Nam – quê ở Nam Định – đang hí hóng cưa một mảnh vỏ đạn pháo 105mm để làm chiếc lược tặng người yêu trước ngày nhập ngũ.

"Tuyến này, xong chiến tranh mày làm gì?" – Nam bất ngờ hỏi, tay vẫn không ngừng mài mảnh kim loại vào gờ đá.

Tuyến dừng bút, nhìn ra khoảng trời xanh ngắt bị xé rách bởi những vệt khói máy bay, cười hiền: "Tớ sẽ về lại trường Sư phạm, làm thầy giáo làng. Còn cậu?"

"Tớ sẽ lái tàu hỏa. Tớ thích tiếng còi tàu hú mỗi khi qua gác chắn. Nó nghe bình yên lắm..."

Lời chưa dứt, một tiếng rít xé gió lao đến. "Pháo!" – Tuyến hô lớn rồi đè gập Nam xuống đáy hầm. Một quầng lửa cam rực bùng lên ngay cửa hầm, đất đá và bụi thuốc súng đổ ập xuống phủ kín hai người. Chiếc lược làm dở văng ra, cắm chặt vào bức tường đất đầy vết cào xước.

Trận pháo kéo dài nửa giờ. Khi khói tan, Tuyến bò dậy, vuốt lớp bụi dày trên mặt rồi xoay người lay Nam. Nhưng người bạn cùng quê sông Đáy đã không còn trả lời. Mảnh văng của quả pháo hạm đã găm vào ngực trái Nam, ngay bên dưới túi áo ngực – nơi vẫn còn cất giữ tấm ảnh chụp chung của hai người ngày lên đường.

Tuyến không khóc được. Mắt ông cay xè vì khói độc và đắng ngắt. Ông lặng lẽ nhặt chiếc lược pháo còn dở dang, lau sạch vết đất bám rồi cất cẩn thận vào túi áo mình. Đêm đó, dưới ánh đèn hoa kỳ tự chế từ vỏ đồ hộp, Tuyến viết tiếp dòng nhật ký dở dang của Nam, ghi lại lời hứa về một tiếng còi tàu hòa bình.

Nhiều thập kỷ trôi qua, ông Trịnh Văn Tuyến trở thành thầy giáo đúng như ước nguyện. Mỗi lần nghe tiếng còi tàu hỏa vang vọng qua vùng quê yên bình, ông lại lấy chiếc lược vỏ đạn đã lên nước đồng bóng lưỡng ra ngắm nhìn. Vết sẹo chiến tranh trên thân thể có thể mờ đi, nhưng ký ức về những người đồng đội tuổi mười tám, đôi mươi đã nằm lại đất mẹ Quảng Trị vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn người cự

u chiến binh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn