TIẾNG CƯỜI SAU TRẬN PHÁO KÍCH
Trong những ngày tìm hiểu về lịch sử quê hương và những năm tháng chiến tranh gian khổ của dân tộc, em có dịp được gặp và nghe bác Nguyễn Trung Kỳ kể lại những kỉ niệm không thể nào quên trong cuộc đời người lính. Giọng kể của bác bình dị, đôi lúc xen lẫn những câu chuyện vui, nhưng đằng sau mỗi lời kể là biết bao gian nan, hiểm nguy mà thế hệ cha anh đã trải qua. Trong số những câu chuyện ấy, em ấn tượng nhất với một trận đánh vào tháng 5 năm 1970. Điều khiến em nhớ mãi không chỉ là trận tập kích bằng súng cối 82 ly, mà còn là tiếng cười của những người lính sau khi vừa trải qua một trận pháo kích dữ dội. Câu chuyện ấy giúp em hiểu rằng, ngay cả trong những năm tháng khốc liệt nhất, lòng dũng cảm, tình đồng đội và tinh thần lạc quan vẫn luôn tỏa sáng.
Theo lời bác Nguyễn Trung Kỳ kể, tháng 5 năm 1970, quân đội Sài Gòn mở cuộc càn quét mang tên “Đông Dương” tại Campuchia. Địch đổ quân, lập nhiều chốt dọc tuyến đường 7, từ Cà Chay, Mi Mốt đến Suông, Chúp, Tô Tỉa. Chúng còn bố trí các trận địa pháo lớn, trong đó có trận địa ở cao điểm 162, phía đông bắc Ka Chay. Từ những vị trí này, địch thường xuyên tung biệt kích đi lùng sục nhằm phát hiện nơi đóng quân của bộ đội ta.
Một ngày nọ, khi ba cơ quan Trung đoàn cùng Đại đội chỉ huy C14 đang đóng quân tại khu vực Sóc Leng, phía nam đường 7, một tốp trực thăng HU-1A bay thấp xuống bìa trảng rồi đổ quân, cách đội hình Đại đội 14 khoảng 500 mét. Nhận lệnh của Trung đoàn, tổ trinh sát gồm ba người do đồng chí Lưu Huy Lệ chỉ huy, cùng hai chiến sĩ Đinh Khắc Nhâm và Phạm Văn Xá, được giao nhiệm vụ tiếp cận, theo dõi địch.
Khi đến gần, các chiến sĩ phát hiện địch đang tụ tập nấu ăn chiều. Tổ trinh sát ẩn mình trong một lùm cây, cách địch chưa đầy 10 mét. Đồng chí Lệ phân công đồng chí Nhâm dùng súng B40 đánh vào nhóm địch đông nhất, còn mình và đồng chí Xá sử dụng súng AK tấn công hai nhóm bên ngoài.
Mọi việc tưởng như đã được chuẩn bị cẩn thận, nhưng bất ngờ quả đạn B40 bị lép, không phát nổ. Khi đồng chí Nhâm thay đạn, tiếng động khiến địch phát hiện. Ngay lập tức, đồng chí Lệ và đồng chí Xá nổ súng. Địch bắn trả dữ dội, khiến đồng chí Xá bị thương. Trước tình thế nguy hiểm, đồng chí Lệ nhanh chóng tổ chức rút lui, dìu đồng đội trở về căn cứ an toàn.
Nghe bác kể đến đây, em cảm nhận được sự căng thẳng của cuộc chạm trán. Chỉ cách địch chưa đầy 10 mét, các chiến sĩ phải đối mặt với biết bao nguy hiểm. Thế nhưng, điều em khâm phục nhất là khi đồng đội bị thương, đồng chí Lệ vẫn bình tĩnh tìm cách đưa người cùng chiến đấu với mình trở về an toàn. Trong hoàn cảnh khó khăn, tình đồng đội không nằm ở những lời nói lớn lao mà được thể hiện bằng chính những hành động thiết thực như thế.
Sáng hôm sau, tổ trinh sát của C14 do đồng chí Nguyễn Văn Riết chỉ huy tiếp tục nhận nhiệm vụ bám địch, xác định vị trí chúng tập trung để phục vụ trận tập kích bằng súng cối 82 ly. Tại nơi xảy ra cuộc đụng độ hôm trước, các chiến sĩ phát hiện nhiều dấu vết của trận đánh, cùng máu, bông băng và đồ quân trang địch bỏ lại. Đồng chí Riết còn thu được một chiếc đài bán dẫn và một số tư trang.
Đến khoảng 16 giờ, toán biệt kích dừng chân trong khu rừng lồ ô, cách trung đội thông tin 15W của C14 khoảng 200 mét. Nắm bắt thời cơ, Trung đoàn ra lệnh cho Đại đội 14 sử dụng súng cối 82 ly tập kích trước khi trời tối. Đồng chí Nguyễn Uông Hà, Đại đội trưởng, lên đài quan sát tại vị trí của trung đội thông tin để trực tiếp chỉ huy trận đánh.
Khi địch vừa tập trung và bắt đầu triển khai công sự, lệnh khai hỏa được truyền xuống. Những quả đạn cối liên tiếp nổ trong khu vực địch co cụm. Tiếng nổ vang lên dồn dập giữa rừng, xen lẫn tiếng la hét của quân địch. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các chiến sĩ được lệnh rút về căn cứ.
Nhưng nguy hiểm vẫn chưa kết thúc. Vừa xuống hầm trú ẩn, bộ đội ta đã phải đối mặt với một trận pháo kích từ cao điểm 162. Đạn pháo rít lên rồi nổ liên hồi quanh khu vực đóng quân của ba cơ quan Trung đoàn và Đại đội chỉ huy. Trong căn hầm, các chiến sĩ nín thở chờ đợi. Qua lời kể của bác, em hình dung được phần nào sự căng thẳng của những phút giây ấy. Trận đánh vừa kết thúc, họ chưa kịp nghỉ ngơi thì hiểm nguy đã lại ập đến.
Khoảng 30 phút sau, pháo địch ngừng bắn. Cây cối đổ ngổn ngang, khói đạn vẫn còn bao phủ khu vực. Các chiến sĩ từ hầm trú ẩn bước lên, miệng đắng ngắt vì khói thuốc súng. Vậy mà giữa khung cảnh ấy, họ vẫn nghĩ ra một câu đùa: C14 hôm nay đã phá hủy được một kho đạn pháo của địch, ít nhất cũng phải 500 viên! Nghe vậy, mọi người đều bật cười.
Đến đây, bác kể chuyện với vẻ bình thản, còn em thì nhớ mãi chi tiết ấy. Em bất ngờ trước tinh thần lạc quan của những người lính. Họ vừa trải qua những phút giây nguy hiểm, vừa chứng kiến cảnh cây cối đổ ngổn ngang sau trận pháo kích, vậy mà vẫn có thể động viên nhau bằng một câu nói vui. Có lẽ, tiếng cười đã giúp họ vơi đi căng thẳng, tiếp thêm sức mạnh để cùng nhau vượt qua những ngày tháng gian khổ. Em hiểu rằng, lạc quan không có nghĩa là không biết sợ hãi, mà là vẫn giữ được niềm tin và nghị lực khi phải đối mặt với khó khăn.
Qua câu chuyện bác Nguyễn Trung Kỳ kể, em còn hiểu rằng mỗi chiến công đều có sự đóng góp của nhiều người. Những chiến sĩ trinh sát phải kiên trì theo dõi, nắm bắt tình hình địch; người chỉ huy phải đưa ra quyết định kịp thời; các chiến sĩ chiến đấu phải phối hợp chặt chẽ để hoàn thành nhiệm vụ. Mỗi người một công việc, nhưng tất cả đều hướng đến mục tiêu chung. Chính sự đoàn kết và tinh thần trách nhiệm ấy đã tạo nên sức mạnh của người lính trong chiến tranh.
Em sinh ra khi đất nước đã hòa bình, chưa từng trải qua những năm tháng bom đạn như các thế hệ đi trước. Được gặp và nghe bác kể chuyện là cơ hội quý giá để em hiểu thêm về lịch sử qua những con người thật, những việc làm thật. Em càng trân trọng cuộc sống hôm nay, trân trọng những ngày được đến trường, học tập và vui chơi trong bình yên. Em hiểu rằng hòa bình không phải tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng biết bao công sức, mồ hôi và sự hi sinh của các thế hệ cha anh.
Câu chuyện kết thúc bằng tiếng cười của những người lính sau trận pháo kích, nhưng những điều em cảm nhận được thì còn ở lại mãi. Em nhớ đến lòng dũng cảm của các chiến sĩ trinh sát, tình đồng đội trong lúc hiểm nguy và tinh thần lạc quan giữa chiến trường khốc liệt. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, biết yêu thương, giúp đỡ mọi người và sống có trách nhiệm hơn. Đó là cách em thể hiện lòng biết ơn đối với những người đã góp phần bảo vệ Tổ quốc, để thế hệ chúng em được lớn lên trong hòa bình và viết tiếp những trang đẹp của quê hương, đất nước.
Người viết
Nguyễn Phi Đức Duy - Lớp 8A3 - Trường THCS Dương Hòa 1 - xã Dương Hòa - Hà Nội



