TIẾNG ĐÀN KHÓC BẠN VÀ KHÍ TIẾT THANH CAO CỦA CỤ TAM NGUYÊN YÊN ĐỔ
Trong dòng chảy của văn học và lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, khi đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, có một bậc đại khoa đã chọn cách lui về ẩn dật, giữ trọn tấm lòng trong sạch giữa thời thế nhiễu nhương. Đó chính là Nguyễn Khuyến, người làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông nổi tiếng là bậc thần đồng, người duy nhất trong thời nhà Nguyễn đỗ đầu cả ba kỳ thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình, nên người đời kính cẩn gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ.
Giữa chốn quan trường đầy rẫy những cạm bẫy và sự suy đồi của buổi giao thời, Nguyễn Khuyến có một người bạn tri kỷ, tâm giao là Dương Khuê. Hai ông cùng đỗ đại khoa (Dương Khuê đỗ Tiến sĩ năm 1868, Nguyễn Khuyến đỗ Tam Nguyên năm 1871 [1]), cùng vào sinh ra tử, cùng nếm trải những năm tháng thăng trầm của thời đại. Tình bạn của họ không đơn thuần là sự đồng điệu về văn chương, khoa bảng, mà còn là sự thấu hiểu sâu sắc về nỗi đau của những trí thức yêu nước trước cảnh nước mất nhà tan.
Thế nhưng, trước thời cuộc, mỗi người lại có một lựa chọn khác nhau. Năm 1884, sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng Pháp, Nguyễn Khuyến đau đớn nhận ra mình không thể làm gì để xoay chuyển cục diện. Ông kiên quyết cáo quan về quê, lấy lý do bị bệnh đau mắt nặng để từ chối mọi sự lôi kéo, mua chuộc của thực dân Pháp và chính quyền tay sai. Trong khi đó, Dương Khuê vẫn tiếp tục ở lại làm quan, kinh qua nhiều chức vụ lớn.
Chính quyền thực dân Pháp tại Nam Định và Hà Nam thời bấy giờ biết uy tín của Nguyễn Khuyến rất lớn đối với nhân dân, nên tổng đốc tay sai đã nhiều lần đích thân tìm đến tận ngôi nhà gianh nghèo của ông ở làng Yên Đổ. Chúng đem theo tiền bạc, bổng lộc, hứa hẹn phục chức để dụ dỗ ông ra làm việc cho Pháp. Đối diện với những lời đường mật của kẻ thù, cụ Tam Nguyên chỉ lặng lẽ chỉ vào đôi mắt đang mờ đục của mình rồi khẳng khái từ chối:
“Mắt tôi đã mù lòa, không còn nhìn rõ sự đời, làm sao có thể gánh vác việc quan? Xin hãy để tôi được làm một ông lão câu cá nơi đồng chiêm trũng.” [1]
Trở về quê nhà, Nguyễn Khuyến sống cuộc đời bình dị của một nhà nho nghèo bên ao thu lạnh lẽo. Dù không trực tiếp cầm súng ra chiến trường, nhưng ông dùng ngòi bút của mình làm vũ khí. Những bài thơ trào phúng, những bài thơ vịnh cảnh nông thôn của ông đều ẩn chứa một nỗi đau đáu khôn nguôi về vận mệnh đất nước, đồng thời ngầm chế giễu những kẻ bán nước cầu vinh.
Năm 1902, một tin dữ truyền đến làng Yên Đổ: Tiến sĩ Dương Khuê đột ngột qua đời ở tuổi 63. Khi nghe tin người bạn tri kỷ lớn nhất đời mình không còn nữa, Nguyễn Khuyến bàng hoàng, đau đớn khôn xiết. Dù hai người thể hiện lòng yêu nước theo hai cách khác nhau, nhưng ông chưa bao giờ oán trách bạn, mà luôn trân trọng tấm lòng của một người đồng điệu.
Giữa không gian tĩnh mịch của làng quê, bậc lão nho tóc bạc trắng, mắt đã nhòa lệ, run rẩy cầm bút viết nên bài khóc bạn bất hủ – bài thơ "Khóc Dương Khuê". Từng lời thơ vang lên như tiếng nấc nghẹn ngào từ đáy lòng:
“Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…” [2]
Trong bài thơ ấy, Nguyễn Khuyến đã nhắc lại tất cả những kỷ niệm thiêng liêng từ thuở tóc còn xanh, những buổi uống rượu luận bàn văn chương, những lúc cùng đi thi, cùng đỗ đạt. Rồi đến đoạn kết, tình cảm dồn nén bấy lâu bỗng vỡ òa thành sự cô độc đến tận cùng:
“Đàn bá nha mấy lăm phen,
Giường kia treo cũng gác lên khăng khăng.
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa?
Giường già lại đứt dây tơ,
Gió thu thấm thía buốt mờ tâm can…” [2]
Câu chuyện về Nguyễn Khuyến treo ấn từ quan, giữ trọn khí tiết giữa thời buổi nhiễu nhương và bài thơ khóc người bạn tri kỷ đã trở thành một giai thoại lịch sử lay động lòng người. Cụ Tam Nguyên Yên Đổ qua đời năm 1909, nhưng cuộc đời thanh cao, không màng danh lợi, thà sống nghèo khổ ở làng quê chứ kiên quyết không làm tay sai cho giặc của ông đã trở thành một bài học lớn về nhân cách cho muôn đời sau.



