Anh hùng Lực lượng vũ trang

TIẾNG ĐÀN TRONG LÒNG ĐẤT ĐỊA ĐẠO VĨNH MỐC

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, sông Bến Hải trở thành giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam - Bắc của Tổ quốc. Nằm ngay sát bờ Bắc vĩ tuyến 17, mảnh đất Vĩnh Linh (tỉnh Quảng Trị) bỗng chốc trở thành tiền đồn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa và là mục tiêu đánh phá hủy diệt của quân đội Mỹ. Trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1972, Vĩnh Linh phải gánh chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ, ước tính mỗi người dân nơi đây phải chịu đựng trên 7 tấn bom đạn các loại. Địch muốn biến nơi này th

Lào Cai14/05/2026Hán Thị Hằng (Trường TH&THCS Mồ Dề)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

TIẾNG ĐÀN TRONG LÒNG ĐẤT ĐỊA ĐẠO VĨNH MỐC

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, sông Bến Hải trở thành giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam - Bắc của Tổ quốc. Nằm ngay sát bờ Bắc vĩ tuyến 17, mảnh đất Vĩnh Linh (tỉnh Quảng Trị) bỗng chốc trở thành tiền đồn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa và là mục tiêu đánh phá hủy diệt của quân đội Mỹ. Trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1972, Vĩnh Linh phải gánh chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ, ước tính mỗi người dân nơi đây phải chịu đựng trên 7 tấn bom đạn các loại. Địch muốn biến nơi này thành “vùng đất trắng” để ngăn chặn mọi sự chi viện từ hậu phương lớn ra tiền tuyến miền Nam và đảo cồn Cỏ anh hùng.

Trước sự tàn khốc của chiến tranh, quân và dân Vĩnh Linh đứng trước hai lựa chọn: hoặc là sơ tán toàn bộ vào sâu trong nội địa, hoặc là bám trụ lại để chiến đấu giữ đất, giữ làng. Với tinh thần "Một tấc không đi, một ly không rời", người dân làng Vĩnh Mốc (xã Vĩnh Thạch) đã có một quyết định lịch sử: chuyển toàn bộ cuộc sống và chiến đấu xuống lòng đất. Từ năm 1966, dưới sự chỉ huy của đồn trưởng biên phòng Trần Song và các kỹ sư chân đất, hàng vạn mét khối đất đá đã được đào bới bí mật. Chỉ bằng những chiếc cuốc, chiếc xẻng thô sơ và những đôi bàn tay rớm máu, quân dân Vĩnh Mốc đã kiến tạo nên một hệ thống địa đạo đồ sộ, một "kinh đô chìm" vững chắc trong lòng lòng đất đỏ ba-zan.

Địa đạo Vĩnh Mốc không chỉ là một hầm trú ẩn đơn thuần, mà là một làng hầm có cấu trúc vô cùng khoa học, gồm 3 tầng với tổng chiều dài hệ thống đường hầm hệ thống hơn 2 km. Tầng một cách mặt đất từ 12 đến 15 mét là nơi sinh sống của nhân dân; tầng hai cách từ 15 đến 18 mét là nơi đóng trụ sở của Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân và Bộ Chỉ huy quân sự; tầng ba sâu hơn 22 mét được dùng làm kho chứa hậu cần, lương thực, vũ khí chi viện cho đảo Cồn Cỏ.

Cuộc sống dưới lòng đất là một thử thách nghiệt ngã đối với sức chịu đựng của con người. Trong lòng hầm chật hẹp, chiều cao chỉ khoảng 1,6 mét, chiều rộng vừa đủ hai người tránh nhau, không gian luôn tăm tối và ẩm ướt. Sự thiếu thốn ánh sáng và oxy là nỗi ám ảnh thường trực; những ngọn đèn dầu, đèn mỡ chỉ được thắp lên khi thật sự cần thiết để tiết kiệm dưỡng khí. Độ ẩm cao khiến da người lúc nào cũng nhớp nháp, quần áo giặt cả tuần không khô, bệnh hắc lào, ghẻ lở hoành hành.

Dọc hai bên đường hầm, người ta khoét sâu vào vách đất những ô nhỏ làm phòng sinh hoạt cho từng gia đình, mỗi ô chỉ rộng khoảng 2 mét vuông, vừa đủ chỗ cho bốn người nằm. Sống trong điều kiện khắc nghiệt như thế, nhưng người dân Vĩnh Mốc vẫn duy trì một nhịp sống ngăn nắp và tràn đầy tình thương. Địa đạo được trang bị đầy đủ các công trình tiện ích công cộng như: một hội trường lớn có sức chứa 50 người, bệnh xá, nhà hộ sinh, giếng nước ngọt, nhà bếp Hoàng Cầm, và các trạm gác nghiêm ngặt.

Điều kỳ diệu nhất ở địa đạo Vĩnh Mốc chính là tinh thần lạc quan, yêu đời của những con người thời hoa lửa (p. 1). Giữa lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái chết, khi bên trên mặt đất là tiếng gầm rú của máy bay B-52 rải thảm, là tiếng bom nổ rung chuyển cả tầng đất sâu, thì dưới lòng hầm, tiếng đàn, tiếng hát của các chàng trai, cô gái thanh niên vẫn vang lên đầy kiêu hãnh. Hội trường địa đạo là nơi thường xuyên diễn ra các buổi biểu diễn văn nghệ, các cuộc họp bàn chiến sự. Tiếng đàn guitar, đàn mandolin hòa cùng giọng hát trong trẻo của những người chiến sĩ đã xua tan đi bóng tối mịt mù, xua tan đi cái ngột ngạt của lòng đất và nỗi sợ hãi chiến tranh. Tiếng nhạc ấy chính là vũ khí tinh thần sắc bén, khẳng định khát vọng sống và niềm tin mãnh liệt vào ngày chiến thắng.

Cũng chính tại căn hầm hộ sinh chật hẹp sâu trong lòng đất, một biểu tượng vĩ đại của sự sống đã nảy mầm. Trong suốt những năm tháng bom đạn ác liệt nhất, đã có tổng cộng 17 đứa trẻ được sinh ra an toàn trong lòng địa đạo Vĩnh Mốc mà không gặp bất kỳ tai biến nào. Tiếng khóc chào đời của những em bé nơi đây vang lên giữa tiếng gầm của bom đạn kẻ thù như một lời khẳng định đanh thép: Không một thế lực bạo tàn nào có thể hủy diệt được sự sống và ý chí của con người Việt Nam. Mỗi đứa trẻ lớn lên trong lòng đất đỏ vĩ tuyến 17 là một minh chứng cho sự che chở vĩ đại của lòng đất mẹ và tình đoàn kết, đùm bọc của quân dân Vĩnh Linh.

Địa đạo Vĩnh Mốc đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Trong suốt gần 2.000 ngày đêm bám trụ dưới lòng đất, hệ thống địa đạo đã bảo vệ an toàn tuyệt đối cho hàng nghìn người dân và chiến sĩ, không một ai bị thương vong do bom đạn. Nơi đây đã trở thành một pháo đài thép kiên cường, nơi xuất phát của các lực lượng chiến đấu phối hợp, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hôm nay, chiến tranh đã lùi xa, địa đạo Vĩnh Mốc đã trở thành một Di tích quốc gia đặc biệt, đón bước chân của hàng vạn du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Những con đường hầm đất đỏ mọc rêu phong vẫn đứng đó như một nhân chứng sống động cho một thời kỳ gian khổ mà oanh liệt. Câu chuyện về tiếng đàn, tiếng hát và những mầm sống sinh ra dưới lòng đất Vĩnh Mốc sẽ mãi mãi là một khúc ca tráng lệ về lòng yêu nước, tinh thần lạc quan và sức mạnh phi thường của thế hệ cha anh trong thời hoa lửa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn