TIẾNG GỌI KHÔNG BAO GIỜ TẮT TỪ TRONG NÚI ĐÁ
Buổi chiều ấy, tiếng trống phiên chợ cuối cùng vang lên, lác đác những người gánh hàng đi qua mặt hồ. Giữa con đường nhỏ phủ đầy nắng, một người phụ nữ áo lụa nâu đứng lặng nhìn mặt nước. Đôi mắt bà đen, sâu, có gì đó như cười mà lại như thách thức cả cõi đời. Đó chính là Hồ Xuân Hương. Bên sườn đồi, mấy nho sinh trẻ xuất hiện, tay ôm sách, miệng đọc những câu thơ đạo mạo. Thấy Xuân Hương đứng đó, họ chào, có người dè dặt cúi đầu, có người nhìn bằng ánh mắt nửa ngưỡng mộ, nửa e ngại. Một nho sinh hỏi: “Thưa bà… vì sao bà hay viết những câu thơ khiến thiên hạ đỏ mặt?” Xuân Hương khẽ cười, nụ cười cong như lưỡi liềm cắt trăng: “Ta chỉ viết những điều đời chưa dám nói.
Thơ mà không có hơi thở của đời… thì chẳng khác chi tờ giấy trắng.” Nói xong, bà bước tới gốc mít bên đường, vuốt nhẹ trái mít gai sần sùi. Bà nói tiếp, giọng trêu mà thấm: “Đời… cái chi cũng có gai, có mật.
Ta chỉ mượn cái gai, cái mật đó mà nói chuyện lòng người.” Nho sinh lặng im. Gió thổi qua tóc bà, gió mang theo mùi đất, mùi hồ, mùi tự do—thứ tự do mà phụ nữ thời ấy hiếm ai dám chạm. Xuân Hương ngồi xuống phiến đá, ngắm chiếc quạt trong tay. Rồi viết vài nét lên giấy, mực loang ra như cánh bướm. Một nho sinh tò mò hỏi:
“Thơ về chuyện gì vậy, thưa bà?” Bà đáp tỉnh queo: “Chuyện đời.
Mà đời thì… lúc nào cũng có đàn ông, đàn bà, có duyên, có phận, có trêu ngươi lý lẽ trời.” Bà nhìn lên bầu trời xanh lộng, ánh mắt sáng như mũi dao bén: “Các ông cứ nói ta nghịch.
Nhưng chính cái nghịch ấy… mới giữ được tiếng nói cho đàn bà.” Nói xong, bà đứng dậy, nụ cười nửa giễu nửa thương: “Khi đời nặng như đá, ta đem thơ mà làm nhẹ.
Khi đời giả bộ đoan trang, ta đem thơ mà bóc trần.” Rồi bà thong thả bước đi, để lại phía sau tiếng gió, tiếng cười và tiếng thở dài của những người vừa hiểu… vừa chưa dám hiểu. LỜI NHẮN GỬI – TINH THẦN HỒ XUÂN HƯƠNG Dạ thưa ông chủ Tâm, Hồ Xuân Hương là: người phụ nữ dám sống khác, dám yêu theo trái tim mình, dám đấu lại cả một xã hội bằng… một bài thơ, và dám dùng tiếng cười để chẻ đôi thói đạo đức giả. Thơ bà vừa tục vừa thanh, vừa tếu táo vừa nhân đạo, vừa là tiếng thở dài, vừa là tiếng cười xé gió. Một người phụ nữ như vậy – sống ở thế kỷ XVIII – mà vẫn hiện đại hơn bao nhiêu người thời nay. Dạ thưa ông chủ, nếu ông chủ muốn: bài phân tích thơ Hồ Xuân Hương, bài phát biểu trong chương trình văn hóa – Mặt trận, kịch bản kể chuyện nghệ thuật, truyện dài hơn – chính luận hơn, Mắm xin chờ lệnh để viết tiếp ngay ạ!
Mắm xin dâng ông chủ một mẫu chuyện ngắn – bi tráng – thiêng liêng – đậm chất sử thi, đúng tinh thần giáo dục truyền thống, rất phù hợp cho Mặt trận, Đoàn, Hội.
Người hướng dẫn – một bác cựu TNXP tóc đã bạc – đứng lặng một lúc rồi bắt đầu kể: “Ngày 14 tháng 11 năm 1972… tám cô gái thanh niên xung phong trẻ lắm, tuổi chỉ vừa mười tám đôi mươi. Các cô làm nhiệm vụ san lấp hố bom, mở đường cho xe ra trận. Một quả bom Mỹ rơi trúng miệng hang… đá đổ sập. Tám cô bị vùi trong đó.” Hải nghe mà ớn lạnh sống lưng. Cậu nhìn vào trong hang tối, tưởng như thấy bóng áo thanh niên xung phong thấp thoáng. Bác cựu TNXP nói tiếp, giọng nghẹn như bị bóp lại: “Đồng đội ở ngoài đào suốt bảy ngày bảy đêm. Đào đến bật cả móng tay… đào bằng tay trần, bằng máu. Trong hang, các cô vẫn gọi ra… giọng nhỏ dần, nhỏ dần…” Hải hỏi nhỏ: “Các cô… nói gì hả bác?” Bác lau mắt: “Ngày cuối… chỉ còn nghe tiếng thì thầm:
‘Các anh đừng lo cho chúng em… hãy lo cho xe qua đường.’
Đến khi tiếng gọi im hẳn… cả cánh rừng lặng đi như vừa mất tám người con gái Trường Sơn.” Gió rừng ùa vào cửa hang, thổi tung những lá khô. Hải cúi đầu. Tim cậu nhói lên như vừa chạm vào nỗi đau của một thời mà cậu chỉ biết qua trang sách. Bác cựu TNXP đặt tay lên phiến đá trước hang: “Tám cô – tám bông hoa Trường Sơn – trẻ lắm, đẹp lắm. Nhưng các cô đã chọn hy sinh để giữ cho mạch máu giao thông ra chiến trường không bao giờ tắt. Nhờ vậy… bao đoàn quân, bao vũ khí đã vượt dãy Trường Sơn mà đi vào Nam.” Hải nghẹn lại. Cậu nói khẽ, nhưng từng chữ như khắc vào đá: “Bác… tụi trẻ bây giờ có khi chưa hiểu hết. Nhưng đứng đây… con thấy như các cô đang nhìn mình. Con hứa… con sẽ sống cho xứng.” Gió rừng chợt lặng. Ánh sáng xuyên xuống đá trước hang, vàng như ngọn nến.
Phải chăng đó là lời đồng ý của tám linh hồn trẻ? Trên đường về, Hải ngoái lại nhìn lần cuối.
Hang đá vẫn đứng đó – trầm mặc, nhưng ánh lên một điều gì đó thiêng liêng:
Sự bất tử của lòng yêu nước.
Sự lặng thầm của những hy sinh không bao giờ gọi tên. Và lời gọi ấy… chưa bao giờ tắt giữa Trường Sơn.



