Tiếng gọi non sông và bước chân người lính trẻ
Trong căn nhà nhỏ tại thôn Liên Trì 2, xã Yên Mô, ông Phạm Văn Hiền khẽ lật giở những ký ức nằm sâu trong ngăn kéo thời gian. Sinh năm 1955, lớn lên khi đất nước còn chia cắt, chàng thanh niên Yên Mô ngày ấy lên đường nhập ngũ với trái tim rực cháy nhiệt huyết. Đối với ông, giai đoạn từ tháng 2 năm 1975 đến năm 1982 không chỉ là một thời kỳ quân ngũ, mà đó là "thời hoa lửa" – quãng đời đẹp nhất, hào hùng nhất và cũng gian khổ nhất mà ông mãi mãi trân trọng.
Tháng 2 năm 1975, khi không khí của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân đang sục sôi khắp cả nước, ông Hiền chính thức khoác lên mình màu áo xanh tình nguyện. Đơn vị của ông là Lữ đoàn 71, Quân đoàn 4 – một trong những đơn vị chủ lực tinh nhuệ hoạt động tại chiến trường miền Nam. Với quân hàm Trung sĩ và chức vụ chiến sĩ, ông đã cùng đồng đội hành quân qua những cung đường đầy bom đạn để tiến về hướng Sài Gòn.
Ông nhớ lại những ngày đầu vào chiến trường, sự khắc nghiệt của thời tiết và địa hình không làm chùn bước chân người lính trẻ. Là một người con của vùng đất Yên Mô, ông mang theo sự can trường, chịu thương chịu khó của quê hương vào từng trận đánh. Trong những tháng ngày áp chót của cuộc chiến tranh chống Mỹ, đơn vị của ông đã tham gia vào nhiều chiến dịch quan trọng, góp phần vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Cảm giác khi nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng vào ngày 30/4/1945 là một niềm hạnh phúc vỡ òa, một kỷ niệm không bao giờ phai nhạt.
Tuy nhiên, hòa bình chưa được bao lâu, ông và đồng đội lại tiếp tục lên đường làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia. Từ năm 1975 đến 1982, cuộc đời người lính gắn liền với những cánh rừng khộp, những trận đánh ác liệt bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nước bạn thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Ông kể về những lần hành quân xuyên đêm, cái đói, cái khát và cả những cơn sốt rét rừng hành hạ. Thế nhưng, tình đồng đội giữa những người lính Quân đoàn 4 đã giúp họ vượt qua tất cả. Có những lúc ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mỏng manh như một sợi tóc, nhưng lòng quả cảm của một người Trung sĩ đã giúp ông đứng vững, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Trở về đời thường vào năm 1982, ông Phạm Văn Hiền mang theo những vết sẹo của chiến tranh nhưng cũng đầy tự hào về một thời oanh liệt. Câu chuyện của ông không chỉ là lịch sử cá nhân mà là một phần lịch sử của dân tộc. Nhìn những lớp trẻ Đoàn viên xã Yên Mô hôm nay, ông luôn hy vọng rằng ngọn lửa yêu nước, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng sẽ mãi được kế thừa và phát huy, để xứng đáng với xương máu của những người đi trước.



