Cựu Thanh niên xung phong

Tiếng hát át tiếng bom - Ký ức của một nhân chứng lịch sử

Lào Cai23/12/2025Chi đoàn Phòng Kỹ thuật hình sự (Công an tỉnh Lào Cai)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hôm nay được gặp và trò chuyện với các cháu, bà lại nhớ về quãng đời thanh xuân của mình - một thời mà tuổi trẻ của bà gắn liền với núi rừng, với bom đạn và với những tiếng hát không bao giờ tắt. Bà kể lại câu chuyện này không phải để nhắc đến gian khổ, mà để các cháu hiểu rằng thế hệ đi trước đã sống, đã cống hiến và đã tin tưởng vào ngày mai như thế nào.

Sáng ngày 28 tháng Chạp năm 1968, khi núi rừng Yên Hợp[1] còn chìm trong sương sớm, bà khoác trên vai chiếc túi vải đã sờn, cùng đoàn văn nghệ xung kích mang tên “Tiếng hát át tiếng bom”[2] của xã Yên Hợp lên đường làm nhiệm vụ. Đoàn của bà có mười hai người, do anh Đỗ Nghĩa Dũng làm trưởng đoàn. Trong đoàn có các cô, các chú như Phan Văn Sửu, Trương Văn Long, Trần Văn Hợi, Lê Thị Bích Thủy, Nguyễn Thị Chung, Nguyễn Thị Hải, Ninh Thu Đậu[3] và một số người khác mà nay bà không còn nhớ đủ tên. Nhưng cháu ạ, dù có quên tên, bà không bao giờ quên ánh mắt, giọng nói và tinh thần của những con người năm ấy.

Ngày đó, bà không có phương tiện gì ngoài đôi chân. Cả đoàn đi bộ qua các xã của huyện Văn Yên[4], đến đâu có bộ đội đóng quân, có bà con sinh sống là dừng lại biểu diễn văn nghệ. Sân khấu của bà rất giản dị: có khi chỉ là khoảng sân đất trước lán, có khi là bãi trống dưới chân đồi, có lúc lại ngay bên cạnh hầm hào. Nhưng mỗi khi tiếng hát, tiếng đàn cất lên giữa núi rừng, bà con và bộ đội đều chăm chú lắng nghe. Những làn điệu dân ca, tiếng nhị, tiếng sáo khi ấy đã phần nào làm vơi đi mệt mỏi, lo âu của những ngày tháng chiến tranh ác liệt.

Không chỉ dừng lại ở biểu diễn, đoàn của bà còn cùng bộ đội làm đủ mọi việc. Gánh từng thùng nước từ suối về lán trên đồi phòng không, chặt củi trên đồi, nấu cơm trong những căn bếp dã chiến còn ám mùi khói. Có những ngày vừa hát xong, chưa kịp nghỉ ngơi, bà lại xắn tay áo cùng bộ đội đào thêm hầm hào, củng cố công sự ở các điểm cao đồi phòng không. Công việc nặng nhọc, bữa ăn đạm bạc, nhưng ai cũng vui và sẵn sàng, bởi mọi người hiểu rằng mình đang góp một phần nhỏ bé vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc.

Các cháu thanh niên bây giờ khó có thể hình dung được con đường mà bà đã đi ngày ấy nguy hiểm đến mức nào. Toàn bộ hành trình đều đi bộ, có những quãng đường dài tưởng như không có điểm kết thúc, phải men theo sườn đồi, có đoạn lại đi sát tuyến đường sắt - nơi máy bay Mỹ thường xuyên bắn phá để cắt đứt tuyến vận chuyển. Mỗi khi nghe tiếng máy bay gầm rú từ xa, cả đoàn lập tức tản ra, tìm hầm hào hoặc bụi cây ven đường để ẩn nấp. Có lần bom nổ rất gần, đất đá bắn tung lên, tim bà thắt lại vì sợ. Nhưng khi khói bụi vừa tan, chúng bà lại đứng dậy, phủi đất cát trên quần áo rồi tiếp tục bước đi, như thể đã quen với hiểm nguy ấy từ lâu.

Thời gian trôi qua cho đến tối ngày 04 tháng 01 năm 1969 (AL), đoàn của bà đến xã Đông Cuông[5]. Sau khi hoàn thành các công việc và buổi biểu diễn cuối cùng, mọi người chuẩn bị trở về xã Yên Hợp thì lúc ấy đã khoảng 11 giờ đêm. Đêm vùng cao tĩnh lặng nhưng đầy căng thẳng. Trên bầu trời, máy bay địch vẫn quần thảo không ngớt, liên tục ném bom xuống các cầu và tuyến đường sắt - con đường quen thuộc mà chúng bà vẫn thường đi. Ai cũng hiểu rằng nếu cố đi theo lối cũ thì rất nguy hiểm.

Trong hoàn cảnh ấy, anh Đỗ Nghĩa Dũng - trưởng đoàn đã bình tĩnh suy nghĩ và đưa ra một quyết định táo bạo. Anh bàn bạc với bà con địa phương và các anh bộ đội đang đóng quân tại xã, nhờ mọi người chặt những cây chuối to ven bờ sông Hồng, kết lại thành một chiếc mảng đủ lớn để cả đoàn xuôi dòng về hạ du. Lúc đầu, nghe nói đi về bằng đường sông, bà vừa ngạc nhiên vừa lo. Nhưng giữa bom đạn như vậy, đó là con đường an toàn nhất.

Việc chặt chuối, buộc mảng diễn ra rất khẩn trương trong đêm. Dưới ánh đèn dầu và ánh trăng mờ, bà con và bộ đội cùng nhau khiêng từng thân chuối, buộc chặt bằng dây rừng. Chỉ khoảng một giờ sau, chiếc mảng đã hoàn thành. Trước khi lên đường, mọi người nắm tay nhau, vẫy chào bà con và các anh bộ đội. Trong lòng bà khi ấy dâng lên cảm giác vừa biết ơn, vừa lưu luyến, bởi giữa chiến tranh, tình người là điều quý giá nhất.

Đó là lần đầu tiên trong đời bà ngồi trên một chiếc mảng trôi giữa dòng sông Hồng rộng lớn. Nước sông lặng lẽ chảy, chiếc mảng theo dòng xuôi về hạ du. Một số anh em nam trong đoàn được giao nhiệm vụ lái mảng, căng mắt quan sát để tránh những bãi bồi, bãi đá ngầm. Ánh trăng đêm ấy sáng vằng vặc, soi rõ mặt nước lấp lánh, như người bạn đồng hành thầm lặng dẫn đường cho đoàn trở về.

Ngồi trên chiếc mảng lênh đênh giữa dòng sông, để xua tan nỗi lo âu và động viên nhau, cả đoàn lại cất tiếng hát. Có người kéo nhị, có người thổi sáo, có người khe khẽ hòa theo làn điệu quen thuộc. Tiếng hát vang lên giữa đêm khuya, hòa cùng tiếng nước chảy, vừa là lời tự nhủ, vừa là niềm tin để tất cả cùng vững lòng.

Chuyến đi ấy đã trở thành một kỷ niệm không thể phai mờ trong cuộc đời của bà. Giữa bom đạn ác liệt của chiến tranh, những con người bình dị đã lấy tiếng hát làm vũ khí, lấy tinh thần làm sức mạnh để bám đường, bám dân, bám bộ đội. Và chính trong đêm trăng xuôi dòng sông Hồng năm ấy, bà hiểu sâu sắc hơn bao giờ hết ý nghĩa của cái tên “Tiếng hát át tiếng bom” không chỉ là lời ca, mà là niềm tin, là sức mạnh giúp con người vượt qua mọi hiểm nguy để tiếp tục đi tới ngày hòa bình.

Bà kể lại câu chuyện này cho các cháu để mong rằng, trong thời bình hôm nay, các cháu sẽ tiếp nối tinh thần ấy bằng cách sống có lý tưởng, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước. Hòa bình không tự nhiên mà có, và giữ gìn, xây dựng đất nước trong hòa bình chính là trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay.


[1] Địa danh một xã thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái trước sáp nhập nay là tỉnh Lào Cai. [2] Đoàn văn nghệ xung kích được thành lập năm 1968, đi biểu diễn nhiều nơi và đã được tặng Bằng khen của Bộ Văn hóa. [3] Những người trong đoàn đều là những người có thật, đến nay mỗi người mỗi nơi, có người còn sống, có người đã chết, cũng không còn liên lạc với nhau. [4] Địa danh một huyện thuộc tỉnh Yên Bái trước sáp nhập nay là tỉnh Lào Cai. [5] Nay là xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn