Tiếng hát của Thúy
Nguyễn Minh Thúy và tôi cùng quê Hà Tĩnh. Bố Thúy là cán bộ Văn phòng Trung ương Đảng nên Thúy được ra Hà Nội sống cùng gia đình từ lúc còn nhỏ. Trên Thúy có hai anh, lúc ấy đang công tác ở nước ngoài...
Nguyễn Minh Thúy và tôi cùng quê Hà Tĩnh. Bố Thúy là cán bộ Văn phòng Trung ương Đảng nên Thúy được ra Hà Nội sống cùng gia đình từ lúc còn nhỏ. Trên Thúy có hai anh, lúc ấy đang công tác ở nước ngoài và cùng được bố chuẩn bị gọi về nước để cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Thúy học Đại học Ngoại giao năm thứ ba. Sau Thúy còn có em gái tên Phương, học lớp 10 Trường Chu Văn An-Hà Nội.
Năm 1971, cùng với cả nước, Thúy và hàng vạn sinh viên Hà Nội tạm xếp bút nghiên xung phong vào bộ đội. Tôi là cán bộ đại đội của một đơn vị pháo phòng không, nhận lớp tân binh toàn sinh viên từ Hà Nội mới vào ngay trên chiến trường Quảng Trị. Tôi cũng như cán bộ, chiến sĩ cũ vui mừng vì có thêm quân số chiến đấu. Anh em mới có trình độ, nhận biết binh khí kỹ thuật nhanh. Tôi cũng lo, bởi mình trưởng thành từ cơ sở, chưa qua một lớp đào tạo nào, nhưng với tấm lòng thương mến anh em, tôi cùng lớp chiến sĩ cũ động viên nhau nhiệt tình hướng dẫn hành động thực tế, nghĩa là hiểu thế nào hướng dẫn anh em làm theo thế đó, từ quay tầm, quay hướng, lấy cự ly, tốc độ nạp đạn và ấn cò để đưa viên đạn vào quân thù khi có lệnh của chỉ huy.
|
Gặp mặt bạn chiến đấu Tiểu đoàn 15 Pháo cao xạ (tác giả ngồi hàng đầu, thứ hai từ trái sang; Nguyễn Văn Hùng hàng sau, thứ hai từ trái sang). Ảnh: Nguyễn Đức Vượng |
Thúy cũng rất muốn gần gũi tôi bởi cùng quê Hà Tĩnh. Thúy tự tìm hiểu và biết tôi chưa có vợ. Ở quê, tôi chỉ có một mẹ, một em gái còn nhỏ. Có lúc Thúy nửa đùa: “Anh gả em gái cho tôi nhé”. Có lá thư nào của nhau đều đọc chung, thậm chí viết chung cho gia đình mỗi đứa trên tờ pơ-luya cho vào một phong bì, vì tem hiếm, giấy hiếm, thời gian cũng hiếm.
Có lần, tôi vừa đi trinh sát địa hình về, đang mệt mỏi, đói khát, Nguyễn Văn Hùng cùng khóa sinh viên với Thúy vui mừng ôm lấy tôi, rộn ràng khoe:
- Anh Ngọc ơi! Mẹ Thúy vừa viết thư vào! Mẹ nói gì anh biết không? Mẹ đồng ý gả em Phương cho anh đấy. Mẹ dặn anh em giữ gìn sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ. Mẹ cũng dặn em và Thúy hãy chiến đấu dũng cảm, xứng đáng là con cháu đất Thăng Long.
Vừa huấn luyện, vừa cơ động chiến đấu truy kích địch, không một ngày giờ nghỉ, lúc nào trong nòng pháo cũng đã lên đạn. Chúng tôi ào ạt cùng các quân binh chủng nhanh chóng vượt sông Bến Hải, giải phóng Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang, Đông Hà, Ái Tử và chiếm giữ Thành cổ Quảng Trị. Ngày nào cũng bắn được máy bay rơi. Nhiều trận chiến đấu căng thẳng, quyết liệt. Hàng chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh như anh Chiến, anh Minh, anh Xơn, anh Khánh, trong đó có lứa sinh viên Hà Nội vừa bổ sung như Nga, Ngọ... Các anh ngã xuống trên đất Quảng Trị thân thương mà suốt đời chúng tôi, những người trong cuộc mãi mãi không quên.
Cuối năm 1972, Hà Nội có chiến công “Điện Biên Phủ trên không”. Đánh thắng giòn giã, đối phương phải vội vã ký tắt hiệp định ngừng bắn ở Pa-ri. Anh em vui sướng, nhưng luôn nhắc nhau cảnh giác. Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin về sự kiện trên làm toàn dân phấn khởi. Có một tuần, sau 12 giờ đài còn tập bài hát về Hà Nội chiến thắng. Hùng và Thúy cứ rủ tôi tập hát bằng được. Bài hát chỉ có giai điệu trong sáng, tự hào và cao vút. Đến nay, tôi không nhớ tác giả và đầu bài. Nhưng mỗi lần nhớ Thúy, tôi lại hát bài ca:
Mỗi bước đi trên đường Hà Nội - Lại cho tôi một tình yêu mới - Với trang sử ngàn năm sáng chói - Ngàn năm mang Thăng Long kiên cường-Hòa với những chiến thắng vẻ vang-Trận đánh thắng hôm nay đây-Hà Nội càng nguy nga xanh thẳm khắp trời-Và tôi đi bỗng hát nên lời...
Một buổi trưa, chúng tôi vừa ăn cơm xong, trời Quảng Trị trong xanh không một gợn mây. Từ ngoài biển xa, pháo hạm của kẻ thù đã tráo trở lật lọng bắn một quả pháo 175mm vào vùng giải phóng. Chúng tôi nghe quả pháo bay trong không gian xoèn xoẹt và nổ đanh cách chúng tôi vài trăm mét, mảnh quả đại bác bay vun vút. Tôi nằm xuống an toàn, còn Thúy bị dính một mảnh vào mạng sườn, máu trộn lẫn cơm vừa ăn trào ra. Thúy không kêu đau, mắt lờ đờ nhìn tôi rồi nói như hát “Mỗi bước đi trên đường Hà Nội” và tắt thở. Tôi ôm choàng lấy Thúy, gọi: “Thúy ơi!”, nhưng Thúy không trả lời nữa. Cả đơn vị xúm lại quanh Thúy đau xót rồi tiễn đưa Thúy về nơi an nghỉ trên một đồi cao, quanh năm lộng gió.
Mãi đến ngày thống nhất Bắc-Nam, tôi cũng đã bị thương nặng với tỷ lệ thương tật mất sức 81%. Tôi vẫn ao ước có ngày mình được xem Thủ đô với nghìn năm văn hiến như thế nào, nhưng trước tiên là được đến thăm gia đình Thúy...
Khi tôi đang điều dưỡng tại trại thương binh nặng Quân khu 4, vô tình đọc Báo Quân đội nhân dân gặp mẩu tin: ... Ai biết mộ liệt sĩ Thúy ở đâu, xin báo tin cho ông Nguyễn Tiến Chương-số nhà 3, phố Nguyễn Trường Tộ-Hà Nội... Thì ra, hài cốt của Thúy vẫn nằm ở chiến trường, còn tôi, tuy có bị thương nặng, vẫn có hạnh phúc gia đình, có vợ hiền đảm đang, có con ngoan chăm học, đang sống trong độc lập, tự do, hòa bình và chứng kiến cuộc sống đang ngày càng đổi mới...
Hình ảnh Thúy không phai trong tôi. Về nhà, tôi lục tìm trong thư từ, nhật ký, trong ký ức của mình, liên lạc với nhiều đồng đội còn sống trên toàn quốc, trong đó có Hùng và đồng đội cùng lớp sinh viên năm ấy. Cuối cùng, tôi, Hùng cùng đồng đội và thân nhân được sự giúp đỡ của nhân dân nơi chiến trường xưa đã đưa được hài cốt Thúy về Nghĩa trang Nhổn, Từ Liêm, Hà Nội.




