TIẾNG HÁT DƯỚI HẦM CHỮ A VÀ BÁT NƯỚC SUỐI NGHĨA TÌNH
Một buổi chiều mùa mưa năm 1974, bầu trời Ma Nới mịt mùng bởi những đợt bom rốc-két rà quét liên tục từ phía thung lũng. Dưới căn hầm chữ A chật hẹp ẩm ướt, cả tổ chiến sĩ nép sát vào nhau, đất đá trên nóc hầm rung lên bần bật sau từng đợt pháo kích cầm canh của địch.
Người lính trẻ Chamaléa Âu – khi ấy mới mười chín tuổi – vừa hoàn thành ca phụ trách gùi nước suối từ khe sâu về cho đơn vị. Chiếc áo Tô Châu mỏng tang trên lưng ướt sũng, hòa lẫn giữa mồ hôi và nước suối lạnh buốt. Nhìn những người đồng đội xung quanh ngồi tựa lưng vào thành đất, đôi mắt căng thẳng dõi theo từng chớp lửa bên ngoài miệng hầm, chàng lính văn công khẽ nhích lại gần, nhịp hai bàn tay chai sần lên báng súng rồi cất lên điệu hát quen thuộc của buôn làng Raglai.
Tiếng hát của người thanh niên sinh năm 1955 cất lên trầm ấm, mộc mạc, len lỏi qua từng khe hầm ẩm mốc. Lời ca êm dịu như dòng suối đầu nguồn chảy qua rẫy bắp quê hương, át đi tiếng đạn pháo rền rĩ và bầu không khí ngột ngạt dưới lòng đất. Những bờ vai đang gồng cứng dần thả lỏng; từng ánh mắt mỏi mệt bỗng dịu lại, hướng về người lính trẻ đang say sưa hát.
Dứt một câu ngân dài, ông Âu chuyền tay nhau chiếc bát sắt đựng ngụm nước suối trong vắt vừa mang về, nhường cho những người đồng đội đang khát cháy họng. Giữa lằn ranh mong manh của sự sống và cái chết, giai điệu mộc mạc và ngụm nước mát lành chuyền tay đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chãi, xua tan bao âu lo, tiếp thêm niềm tin son sắt vào ngày mai bình yên.
Ký ức về tiếng hát dưới lòng đất sâu năm ấy đã theo người bệnh binh Chamaléa Âu suốt cả cuộc đời, để rồi sau ngày non sông liền một dải, giai điệu kiên cường của thời hoa lửa tiếp tục được ông gửi gắm trọn vẹn vào từng âm thanh mộc mạc của cây đàn Chapi nơi buôn làng.



