Tiếng hát ngân vang, bền bỉ với thời gian
NSND Quang Thọ (SN 1948) là giọng ca lớn của dòng nhạc chính thống và âm nhạc Việt Nam. Sự nghiệp âm nhạc của ông đã trải dài suốt nửa thế kỷ qua và khởi đầu chính là từ phong trào ca hát quần chúng của ngành Than.
Ông từng là chàng công nhân thợ điện của mỏ than Cọc Sáu vào những năm 60 của thế kỷ trước. Khi ấy, Vùng mỏ còn nhiều gian khó và bị giặc Mỹ bắn phá ác liệt. Giọng hát của ông đã sớm nổi tiếng khi ông tham gia tích cực trong phong trào văn nghệ xung kích của ngành Than. Ông từng kể rằng, vào ngày chiến thắng trận đầu của quân dân Vùng mỏ 5/8/1964, ông có mặt trên đồi pháo của mỏ Cọc Sáu hát cho đội tự vệ đang trực chiến thì còi ủ và tiếng loa phóng thanh báo máy bay địch đang tới vang lên. Chứng kiến sự anh dũng của các chiến sĩ tự vệ, ông cũng thấy tận mắt chiếc máy bay bị bắn cháy sà xuống phía vịnh Bái Tử Long…
Giữa những ngày khói lửa, đạn bom của Vùng mỏ những năm Mỹ bắn phá ác liệt như thế, ông và NSND Lê Dung khi ấy là một đôi song ca ăn ý đã hát cho công nhân mỏ nghe để động viên tinh thần người thợ, chiến sĩ ngành Than, làm vơi đi sự vất vả của người thợ, sự gian khổ, ác liệt của chiến tranh. Họ đã hát giữa công trường, hát ngay cả trong những căn hầm, hát dưới màn đêm không ánh sáng đèn, chỉ có ánh chớp và tiếng nổ của bom đạn. Nắng, gió, bụi than đất mỏ tôi luyện giọng ca, con người Quang Thọ. Ông từng kể rằng có những lần đi hát cùng anh chị em, phải đứng trên xe thùng đi trên những con đường dốc, xóc từ các mỏ Mông Dương đến Uông Bí. Lại có những hôm ông và các ca sĩ vừa đi, vừa hát các buổi biểu diễn từ 6 giờ sáng cho đến 10 giờ đêm…
Có lẽ chính ký ức những năm tháng ấy khiến Quang Thọ luôn giữ được những cảm xúc hết sức đặc biệt khi hát về ngành Than, về người thợ mỏ, kể cả sau này khi ông đã rời Vùng mỏ, với những ca khúc hào hùng, sống mãi với vùng than, như: "Tôi là người thợ mỏ" (Hoàng Vân), "Những ngôi sao ca đêm" (Phạm Tuyên), "Trên đỉnh Đèo Nai em hát" (Trần Quý), "Nhịp máy khoan" (Trọng Bằng)...
Không chỉ hát trên các công trường, phân xưởng, các trọng điểm chiến đấu của lực lượng tự vệ ngành Than, đầu năm 1971, ông đã tham gia đoàn văn công xung kích của Vùng mỏ đi biểu diễn phục vụ cán bộ, chiến sĩ đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia. Ông từng kể, lúc đó, ông 24 tuổi, hành quân như bộ đội, vai mang ba lô con cóc 5kg, vác súng trường, khoác theo một cây đàn ghi ta. Ngày đó, tâm thế lên đường không biết có ngày trở lại, nên mọi người luôn thương yêu, chia sẻ với nhau. Nhà viết kịch Tất Thọ, thành viên trong đoàn, nhớ lại: Quang Thọ khi ấy đã có giọng hát rất hay. Anh chủ yếu hát các ca khúc mới nhưng vì tính chất đa năng của đoàn khi ấy nên có khi anh còn tham gia diễn chèo, kịch ngắn với anh em…
Mang lời ca, tiếng hát đi vào cuộc kháng chiến của dân tộc đã trở thành ký ức thiêng liêng theo ông suốt cuộc đời. Sau khi từ Trường Sơn ra vào năm 1972, Quang Thọ được cử đi học tại Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam). Sau này, ông trở thành nghệ sĩ của Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam rồi giảng viên, Chủ nhiệm Khoa Thanh nhạc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Thành danh, tiếng hát của Quang Thọ từng đoạt nhiều giải thưởng và vang xa ở hàng chục quốc gia trên thế giới trong các chuyến lưu diễn. Ông vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 2001. Sống xa Vùng mỏ nhưng bao giờ, ông cũng dành tình cảm đặc biệt cho vùng đất này và mỗi khi trở về với quê hương, tiếng hát của ông vẫn luôn ngân vang, hào sảng với những ca khúc ngợi ca vùng than, ngợi ca người thợ mỏ…



