TIẾNG HÁT TRONG HẦM VÀ TÌNH ĐỒNG CHÍ SẺ CHIA NƠI TRẬN ĐỊA LỬA ĐẠN
Bà Vũ Thị Sâm, sinh năm 1954, quê quán tại xã Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, hiện đang sinh sống tại thôn Thành Sơn, xã Xuân Hải, tỉnh Khánh Hòa, là nữ Thanh niên xung phong kiên cường đã sống trọn vẹn những năm tháng tuổi trẻ hào hùng nơi chiến trường khốc liệt. Trong giai đoạn 1971 - 1974, cùng với nhiệm vụ gian nan làm đường, rà phá bom mìn bảo đảm mạch máu giao thông cho bộ đội chiến đấu, bà cùng đồng đội phải đối mặt với muôn vàn thiếu thốn, gian khổ nơi rừng sâu. Dưới những căn hầm chữ A ẩm thấp khoét sâu vào lòng đất, tình đồng chí keo sơn, sự sẻ chia từng ca nước, củ sắn lùi và tiếng hát trong trẻo của các cô gái tuổi mười tám, đôi mươi đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần kỳ diệu. Ngọn lửa lạc quan cách mạng ấy đã xua tan mùi khói bom khét lẹt, thắp sáng niềm tin sắt son vào ngày độc lập, tự do của non sông.

Trong kho tàng ký ức thời hoa lửa của dân tộc Việt Nam, hình ảnh những căn hầm chữ A khoét sâu vào vách núi, nép mình bên những cung đường bom đạn cày xới đã trở thành biểu tượng bất tử cho sức sống kiên cường và tâm hồn trong sáng của lực lượng Thanh niên xung phong. Nơi ấy, giữa những đợt bom rải thảm dữ dội của máy bay Mỹ, không gian ngột ngạt khói thuốc súng bỗng chốc trở nên ấm áp lạ kỳ bởi tình đồng đội keo sơn và những khúc ca rộn rã yêu đời. Khẩu hiệu “Tiếng hát át tiếng bom” không chỉ là một phong trào hành động cách mạng, mà là tiếng lòng tự nhiên của cả một thế hệ thanh niên sẵn sàng hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc. Tại chiến trường tuyến lửa gian lao những năm 1971 - 1974, cô gái út nhỏ nhắn Vũ Thị Sâm đã cùng các đồng đội nữ viết nên bản tình ca đồng chí tuyệt đẹp ngay trong lòng đất mẹ.
Rời vùng quê Diễn Châu, Nghệ An thanh bình năm mười bảy tuổi, cô gái trẻ Vũ Thị Sâm nhanh chóng bước vào nhịp sống quân ngũ đầy kỷ luật và gian khổ. Đơn vị Thanh niên xung phong của bà đóng quân rải rác dọc các triền đồi trọng điểm, nơi ban ngày là trận địa khói lửa mịt mù của bom từ trường, bom nổ chậm, còn ban đêm là những giờ phút thức trắng để san lấp hố bom mở đường cho xe lăn bánh. Chỗ ở của các nữ chiến sĩ là những căn hầm chữ A chật hẹp, được gia cố bằng những thân cây rừng xếp khít nhau và đắp nhiều lớp đất đá dày để chống chọi với mảnh bom pháo. Mùa mưa lũ, nước từ các khe suối tràn vào làm ngập ngụa bùn non; mùa nắng cháy, đất đá nung nấu làm không khí trong hầm hầm hập như lò than, thiếu thốn từng luồng gió mát.
Cuộc sống sinh hoạt nơi tuyến đầu vô cùng thiếu thốn và khắc nghiệt. Nguồn nước ngọt dùng cho ăn uống, tắm giặt phải gùi từng can từ những con suối xa xôi nằm sâu trong tầm ngắm của máy bay trinh sát giặc. Bữa ăn hằng ngày của những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi hiếm khi có được hạt gạo trắng trọn vẹn, mà chủ yếu là cơm độn ngô, khoai lang phơi khô, củ sắn luộc chấm với muối mặn và mớ rau tàu bay hái vội ven rừng. Những cơn sốt rét rừng kinh niên ập đến làm cho da dẻ xanh xao, tóc rụng từng mảng, toàn thân run bần bật giữa cái lạnh cắt da của núi rừng. Thế nhưng, chưa từng có một lời than vãn hay một tiếng thở dài buông xuôi xuất hiện trong căn hầm chữ A của tiểu đội cô Sâm.
Chính trong hoàn cảnh gian truân, thử thách tột cùng ấy, tình đồng chí cách mạng vô sản lại bừng sáng ấm áp và thiêng liêng hơn bao giờ hết. Những cô gái từ khắp các miền quê về đây tụ hội, xem nhau như chị em ruột thịt trong một gia đình. Là người con út trong gia đình có sáu anh chị em cách mạng ở quê nhà, cô Sâm luôn nhận được sự chăm sóc, bảo bọc thân thương của các chị đi trước, nhưng đồng thời cô cũng luôn chủ động gánh vác những phần việc khó nhọc nhất. Từng ca nước suối ngọt ngào được nhường nhịn cho người bị ốm, từng củ sắn lùi thơm nức được bẻ làm đôi, làm ba chia đều trong đêm vắng, manh áo ấm được xé làm băng gạc hay khoác thêm cho đồng đội đang run lên vì cơn sốt rét. Sự sẻ chia chân thành, mộc mạc ấy đã trở thành dòng sữa mát lành nuôi dưỡng ý chí sinh tồn của cả tiểu đội.
Điều kỳ diệu nhất nơi những căn hầm chữ A khói lửa chính là tiếng hát trong trẻo không bao giờ ngưng nghỉ của những nữ Thanh niên xung phong. Sau những giờ phút đối mặt với tử thần trên mặt đường, rà phá từng quả mìn nổ chậm nghẹt thở, các cô gái lại quây quần bên nhau dưới ánh sáng leo lét của chiếc đèn dầu làm từ vỏ đạn pháo. Họ cùng nhau chải tóc cho nhau, soi gương qua mảnh kính vỡ và cất cao những lời ca tiếng hát rộn ràng. Những bài hát cách mạng hào hùng, những khúc dân ca ví giặm quê hương xứ Nghệ ngọt ngào da diết vang lên từ lòng đất, hòa quyện vào tiếng gió rừng xào xạc. Tiếng hát của cô Sâm và đồng đội có sức mạnh kỳ diệu át đi tiếng gầm rú của máy bay địch, xua tan nỗi sợ hãi cái chết và làm dịu đi những cơn đau nhức buốt vì thương tật.
Tiếng hát và nụ cười rạng rỡ của những cô gái mở đường nơi hầm chữ A là minh chứng đanh thép khẳng định tâm hồn bất diệt của tuổi trẻ Việt Nam. Bom đạn của đế quốc Mỹ có thể cày xới nát tan từng ngọn đồi, băm vạt từng tấc đất, nhưng hoàn toàn bất lực trước vẻ đẹp thanh xuân và niềm lạc quan cách mạng của con người. Họ sống giữa ranh giới sinh tử mong manh với một tâm thế nhẹ nhàng, thanh thản lạ kỳ. Niềm tin bất diệt vào ngày mai hòa bình, độc lập đã tiếp thêm cho họ đôi cánh hy vọng, biến những nhọc nhằn, hiểm nguy thành những nốt nhạc kiêu hãnh của khúc tráng ca thời đại.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Bên cạnh lời ca tiếng hát, những căn hầm chữ A còn là nơi lưu giữ những câu chuyện tâm tình sâu kín của tuổi mười tám. Trong những đêm pháo sáng địch thả rực trời, cô Sâm cùng đồng đội lại thì thầm kể cho nhau nghe về quê hương Diễn Châu, về những người anh, người chị đang chiến đấu ở các chiến trường xa xôi, về ước mơ ngày đất nước sạch bóng quân thù được trở về bên mái ấm gia đình. Những ước mơ bình dị, trong sáng ấy là ngọn hải đăng soi sáng tâm hồn, nhắc nhở mỗi nữ chiến sĩ phải kiên cường bám trụ trận địa, không bao giờ lùi bước trước bất kỳ gian nan nào.
Đối với bà Vũ Thị Sâm, ký ức về tình đồng đội nơi căn hầm chữ A là tài sản tinh thần vô giá mà bà mang theo suốt cả cuộc đời. Đã có những người bạn cùng tiểu đội, những người vừa mới cùng bà chia nhau bát cơm chiều, hát chung một bài ca dân ca đã anh dũng hy sinh trên mặt đường khi bom thù dội xuống. Máu của các chị đã hòa vào lòng đất mẹ, để lại niềm tiếc thương vô hạn nhưng cũng hun đúc thêm lòng căm thù giặc và quyết tâm sắt đá trong lòng người ở lại. Mỗi lần nhớ về đồng đội, đôi mắt người cựu Thanh niên xung phong lại rưng rưng xúc động, khắc sâu lời thề sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của những người đã khuất.
Bài học về tinh thần lạc quan và tình đồng chí thiêng liêng từ những căn hầm chữ A của bà Vũ Thị Sâm mãi mãi là bản anh hùng ca bất tử về phẩm giá con người Việt Nam trong chiến tranh. Đó là sự khẳng định rằng tình yêu thương, sự đoàn kết và niềm tin vào chính nghĩa chính là cội nguồn của mọi thắng lợi vĩ đại. Tấm gương quả cảm, yêu đời của người nữ chiến sĩ Diễn Châu năm xưa sẽ mãi mãi là nguồn cảm hứng to lớn, thắp sáng tâm hồn các thế hệ cháu con hôm nay.
Hôm nay, giữa cuộc sống hòa bình no ấm, mỗi khi nhớ lại tiếng hát trong hầm chữ A năm xưa, bà Vũ Thị Sâm luôn mỉm cười thanh thản. Ngọn lửa nhiệt huyết của những năm tháng gian khổ mà rực rỡ ấy vẫn luôn bừng cháy trong tim bà, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của tình người và sự sẻ chia trong cuộc sống. Bản hùng ca nơi hầm sâu lửa đạn sẽ mãi mãi đồng hành cùng non sông, tiếp sức cho tuổi trẻ vững bước trên hành trình dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh và nhân ái.
THÔNG ĐIỆP GỬI THẾ HỆ TRẺ: Tinh thần lạc quan, yêu đời và tình đồng chí sẻ chia chân thành chính là điểm tựa tinh thần vững chãi nhất giúp con người chiến thắng mọi nghịch cảnh khốc liệt. Thế hệ trẻ, đoàn viên thanh niên hôm nay hãy soi mình vào tâm hồn trong sáng của bà Vũ Thị Sâm và những nữ Thanh niên xung phong năm xưa; luôn giữ cho mình một tinh thần tích cực, niềm tin vững chắc vào tương lai; biết yêu thương, sẻ chia và đùm bọc bạn bè, đồng nghiệp trong lúc khó khăn; biến nhiệt huyết thanh xuân thành những hành động thiết thực để xây dựng quê hương, đất nước tràn ngập tình yêu thương và hạnh phúc!



