“Tiếng hát Trường Sơn” Anh dũng, bi tráng
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Phúng, năm nay 84 tuổi (quê quán Thái Bình) ở xã Xuân Ninh, nay là Trường Ninh, từng là thanh niên xung phong giai đoạn 1968-1972 tại khu vực bến phà Long Đại cho biết, hơn năm mươi năm trước, vào đầu năm 1971, khu vực Long Đại được phát triển thêm một bến phà, gọi là bến phà 2 Long Đại. Bến phà một sát cầu Long Đại. Bến phà 2 nằm ở hạ lưu cầu Long Đại, cách bến một khoảng 500m. Những năm tháng ấy Đại đội Thanh niên xung phong 130 tỉnh Thái Bình được điều động đến thườn
“Tiếng hát Trường Sơn”
Chúng tôi may mắn tiếp cận được quyển nhật ký “Tiếng hát Trường Sơn” lần đầu tiên được công bố của tác giả liệt sĩ Bùi Năng Đắc thuộc Đại đội Thanh niên xung phong 130 tỉnh Thái Bình trong thời gian làm nhiệm vụ ở bến phà 2 Long Đại. Một phần nội dung của nhật ký giúp bạn đọc ít nhiều hình dung thêm được sự gian lao và khát vọng cháy bỏng cống hiến sức trẻ cho Tổ quốc và tình yêu quê hương, đất nước của tuổi hai mươi ngày ấy.
Trong bài “Lên Trường Sơn” tác giả viết: “Đoàn hỏa tuyến chúng ta chiến đấu. Mở đường đi uống máu quân thù. Những ngày nắng lửa trời thu. Đoàn quân hỏa tuyến thắng thù lập công”( 26/8/1971).
Rồi giữa chiến trường bom đạn mịt mù, bất chợt gặp người con gái đồng hương, xinh đẹp cùng ra trận, những dòng tâm sự bằng thơ của anh lại bay bổng, ngọt ngào, tình yêu của họ lúc này không chỉ là cảm xúc cá nhân mà hòa quyện với lý tưởng chung của dân tộc : “Lên Trường Sơn xẻ núi mở đường. Gặp em con gái quê hương. Tóc xanh phảng phất mùi hương ruộng đồng. Ôi đôi má em hồng lên vì nắng. Đôi mắt nhìn như xuyên thẳng vào tim. Ôi nụ cười tô thắm tình duyên. Của cô gái đồng chiêm mười tấn.”( Ngày 10/11/1971).
Dù tình yêu lãng mạn cách mạng và lòng dũng cảm kiên cường của các anh chị có lớn lao đến đâu, cũng khó có thể chống lại sức tàn phá khốc liệt của bom đạn quân thù, khi ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Câu chuyện đầy bi tráng về sự hy sinh anh dũng của 16 thanh niên xung phong thuộc Đại đội 130, quê ở tỉnh Thái Bình, trong hai trận ném bom ác liệt của quân đội Mỹ vào tháng 9 năm 1972, khiến nhiều người không khỏi nghẹn ngào xúc động khi nhớ về.
Ngày 19/9/1972, trong lúc các chiến sĩ của Đại đội Thanh niên xung phong 130 tỉnh Thái Bình đang làm nhiệm vụ tại bến phà 2 Long Đại, thì máy bay quân đội Mỹ phát hiện và liên tục ném bom dữ dội. Trận ném bom kết thúc, có 3 chiến sĩ hy sinh khi đang vận chuyển hàng hóa bằng thuyền từ bờ bắc sang bờ nam sông Long Đại; 12 chiến sĩ còn lại hy sinh tại bến phà và trong hầm trú ẩn, chưa kể những chiến sĩ bị thương. Khu vực các anh chị hy sinh ngổn ngang là bãi đất sâu hoắm những hố bom chi chít. Đồng đội khẩn trương cứu hộ thật nhanh với hy vọng các anh chị may mắn còn sống sót. Đau đớn thay, sau mỗi lớp đất đá đào xuống, trái tim họ lại quặn thắt chứng kiến các anh chị nằm lại nơi đó, có người thi thể không còn nguyên vẹn, máu xương lẫn trộn vào đất, vào nước sông Long Đại.
Nỗi đau chưa kịp nguôi ngoai, chỉ bốn ngày sau, máy bay quân đội Mỹ lại tiếp tục ném bom xuống bến phà 2 Long Đại, khiến chiến sĩ Trần Mạnh Hà hy sinh. Đại đội 130 một lần nữa lại phải tiễn đưa người đồng chí của mình trong nỗi đau thương lên đến tột cùng. Sau hai đợt rải thảm bom của quân đội Mỹ, Đại đội 130 có 16 đồng chí hy sinh, gồm 7 nữ, 9 nam, đều có quê quán Kiến Xương, Thái Bình. Mười sáu trái tim trẻ nhiệt huyết mãi mãi đã neo đậu ở bến phà 2 Long Đại. Mười sáu trái tim là mười sáu cuộc đời của các chàng trai, cô gái còn rất trẻ. Cái quý nhất của mỗi con người là sinh mạng thì các anh chị đã hiến dâng cho Tổ quốc. Còn sự hy sinh nào lớn hơn thế, khi mất đi mà một phần thân xác có người vẫn chưa về.
Ở quê nhà Thái Bình, người chị gái Bùi Thị Thảo vào ngày 20/3/1973, đau đớn viết vào nhật ký của em trai mình: “Ngày 17/9/1972 tôi gửi lá thư cho người em trai Bùi Năng Đắc đang làm nhiệm vụ cao cả ở bến phà 2 Long Đại. Tôi gửi thư cho em trai ở Trường Sơn và hy vọng thư sẽ đến, em biết được tin nhà, biết được những đổi thay ở quê hương và tình hình gia đình. Song nào đâu có ngờ, thư tôi vừa gửi đi được hai ngày thì đến 19/9/1972 em tôi hy sinh. Biết được tin lòng lòng tôi đau xé, toàn gia đình bàng hoàng. Tất cả đều hy vọng ngày em trở về với gia đình, bên mẹ già và làng xóm trong cái tết 1973 …”
Anh Bùi Năng Đắc chính là một trong 16 thanh niên xung phong anh dũng hy sinh tại bến phá 2 Long Đại. Nỗi đau mất mát của chị gái Bùi Thị Thảo và gia đình cũng là nỗi đau khó nói hết bằng lời của hàng vạn người chị, người mẹ trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh. Từ xưa nay, lịch sử dân tộc Việt Nam luôn được cô đọng nhắc đến trong hai từ đầy tự hào, vinh dự của mỗi con người là hy sinh để góp phần dựng nước và giữ nước.



