TIẾNG HÁT TỬ TÙ - BÀI THƠ TỪ NGỤC TỬ TÙ CHÍ HÒA (1)
Ở tuổi 89, ông vẫn nhớ rõ từng giờ, từng ngày trong ngục tù. Người
từng bị tuyên án chết giữa thời thanh xuân, nhưng không gục ngã,
không cầu xin ân xá. Ông đã cùng đồng đội hát lên hành khúc giải
phóng sau khi bị tòa án chính quyền Sài Gòn tuyên án tử hình.
Cựu tử tù Lê Quang Vịnh là chứng nhân đặc biệt của một thời tuổi trẻ VN
dám sống, dám tin và dám hiến cả đời mình cho lý tưởng.
Ông Lê Quang Vịnh kể lại những năm tháng đấu tranh bị địch bắt
DẤU MỐC MỞ ĐẦU HÀNH TRÌNH CÁCH MẠNG
Sinh năm 1936 tại Huế, ông Lê Quang Vịnh lớn lên trong một gia đình trí
thức yêu nước. Khi mới 14 tuổi, cậu thiếu niên gầy gò ấy chứng kiến cha
mình bị lính Pháp bắn chết. Bi kịch ấy trở thành dấu mốc mở đầu cho hành
trình cách mạng suốt đời.
Ngồi lặng nghe ông kể, nhìn ông - người đã đi qua gần một thế kỷ - kể về
ngày thơ ấu mà giọng vẫn rắn rỏi: "Chính từ hôm đó (tức ngày chứng kiến
cha bị lính Pháp bắn chết - NV), tôi biết mình sẽ đi con đường cách mạng, dù
có phải đánh đổi cả đời".
Năm 1950, ông tham gia phong trào học sinh kháng chiến ở Huế, rải truyền
đơn, viết khẩu hiệu phản đối chính quyền bảo hộ. "Hồi ấy chúng tôi chỉ có
giấy, mực và cách in bột. Nhưng mỗi dòng chữ viết ra đều có thể đổi bằng
mạng sống", ông nói, rồi kể tiếp: "Bị bắt, bị giam 7 tháng trong nhà lao Phủ
Thừa, nhưng tôi vẫn không sợ. Ra tù, tôi lại tiếp tục".
Sau Hiệp định Genève năm 1954, theo sự giới thiệu của một người thầy, ông
được kết nạp vào tổ chức thanh niên cách mạng bí mật bên bờ sông Hương.
"Họp đêm, đốt đuốc, bàn chuyện nước nhà. Ai cũng trẻ, ai cũng tin rằng đất
nước sẽ thống nhất", ông mỉm cười nhẹ, ánh mắt xa xăm.
Ông Lê Quang Vịnh kể lại những năm tháng đấu tranh bị địch bắt
Từ năm 1954 đến 1957, ông liên tiếp bị bắt, bị cấm hoạt động chính trị tại Huế
vì tham gia Báo Ngày Mai - một ấn phẩm cách mạng đấu tranh đòi hiệp
thương thống nhất đất nước. Khi ra tù, ông rời Huế vào Sài Gòn, mang theo
khát vọng tiếp tục con đường dở dang. Giữa Sài Gòn hoa lệ cuối thập niên
1950, ở tuổi 24, ông tốt nghiệp thủ khoa Trường ĐH Sư phạm Sài Gòn (khoa
Toán), đồng thời nhận bằng cử nhân giáo khoa toán học của Trường ĐH
Khoa học Sài Gòn.
Tôi hỏi: "Lúc đó ông nghĩ mình sẽ đi dạy, chứ chưa hẳn làm cách mạng?".
Ông cười: "Tôi dạy học cũng là để làm cách mạng thôi. Cách mạng trong tư
tưởng, trong lớp học". Không dừng lại ở đó, ông còn ghi danh học thêm luật
khoa và văn khoa. "Chủ yếu để kết nối sinh viên nhiều trường, tạo mạng lưới
phong trào trong lòng đô thị", ông nói. Nhờ thành tích học tập xuất sắc, ông
được quyền chọn trường dạy. Và trường trung học danh giá nhất miền Nam
lúc ấy - Pétrus Ký Sài Gòn (nay là Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong,
TP.HCM) đã chào đón ông.
Năm 1961, theo yêu cầu của Khu ủy, Giáo sư Lê Quang Vịnh rời Sài Gòn, ra
căn cứ của Khu đoàn Sài Gòn - Gia Định để chuẩn bị thoát ly. "Hồi đó, tôi viết
một bản báo cáo gửi sinh viên quốc tế, tổng kết phong trào học sinh, sinh viên
miền Nam chống Mỹ - Diệm. Viết xong, chưa kịp gửi, thì địch tập kích", ông
kể.
KHI BẢN ÁN TỬ HÌNH ĐƯỢC TUYÊN ĐỌC…
Ngày 24.5.1962, Tòa án Sài Gòn tuyên án tử hình đối với Lê Quang Vịnh và
một số đồng đội. Ông nhớ lại: "Lúc đó là 00 giờ 10 phút. Anh em chúng tôi
đứng cả dậy hô: Đả đảo luật pháp phát xít miền Nam. Bọn lính nhào tới đánh,
kéo lê chúng tôi xuống cầu thang và đẩy lên xe. Chúng tôi bắt đầu hát: Vùng
lên, nhân dân miền Nam anh hùng… Hát để chứng minh rằng mình không
sợ". Giữa bạo lực và cái chết, những người thanh niên ấy đã chọn hát thay vì
khóc, chọn ngẩng cao đầu thay vì khuất phục. Đó không chỉ là hành động
phản kháng, mà là lời tuyên ngôn của cả một thế hệ - thế hệ tin rằng chết cho
lý tưởng là sống trọn với Tổ quốc.
Báo chí đưa tin về phiên tòa quân sự của chính quyền Sài Gòn tuyên án tử
hình ông Lê Quang Vịnh (thứ 3 từ trái sang) và đồng đội
Ông kể: "4 tử tù chúng tôi bị đưa đến trại giam Chí Hòa và nhốt riêng từng
người, mỗi người trong một phòng giam nhỏ nằm trong một khu mà về sau
mới biết là ngục tử tù sắp bị hành quyết. Tuy bị nhốt trong 4 phòng cách biệt
nhau, nhưng mỗi buổi sáng tôi vẫn được dẫn xuống tắm giặt chung ở một sân
đất rộng có giếng nước nằm bên cạnh, nên chúng tôi vẫn liên hệ được với
nhau. Vả lại, khi cần trao đổi, tôi cứ nói lớn tiếng thì các anh ở phòng bên
cũng nghe được".
Nửa tháng sau, đại tá Lê Văn Khoa - Ủy viên chính phủ của chính quyền Sài
Gòn - vào tận ngục tử tù đưa cho ông cây viết và tờ giấy, thuyết phục ông làm
đơn xin Tổng thống Ngô Đình Diệm ân xá. Ông kể: "Ông Khoa nói: Tổng
thống không hiểu tại sao một người thành đạt như anh lại theo Cộng sản. Chỉ
những kẻ thất bại mới làm thế". Thế nhưng ông đáp gọn: "Tôi không bao giờ
xin những kẻ không đáng xin".
Câu nói ấy về sau trở thành biểu tượng của lòng kiên trung. Ông kể đêm hôm
đó, ông không ngủ. Trong ngục Chí Hòa, từ tờ giấy và cây bút ông Khoa đưa,
ông viết liền một mạch bài thơ Tiếng hát tử tù - và rồi bài thơ đã vượt khỏi bốn
bức tường…
Một đêm gần sáng, khi đang bị biệt giam, ông nghe tiếng động nhẹ ở khe
cửa. Một cuộn giấy nhỏ bọc ni lông được đẩy vào. Bên trong là mảnh thư: "Đả
đảo Mỹ - Diệm giết hại người yêu nước. Có gì cần nhắn gởi ra ngoài đời, cứ
viết và gói lại như thế này, nhất định sẽ đến đúng nơi". Ông kể rằng ban đầu
ông ngờ là bẫy gián điệp, nhưng rồi vẫn quyết định viết bài thơ Tiếng hát tử
tù, bọc kín, đẩy ra ngoài.
Trong ngục tử tù Chí Hòa, ông bị giam trong căn phòng bít kín, nhưng ông
không tuyệt vọng. "Ở đó, tôi thấy lòng mình bình yên lạ lùng. Bình yên của
người đã hiểu vì sao mình sống, và nếu phải chết, thì cũng phải chết cho
xứng đáng", ông bộc bạch.
Và rồi ông kể, thời gian trôi, ông không bị hành quyết mà bị đày ra Côn Đảo,
sống gần 3 năm trong Khu Tử hình gọi là "Khu Tu dưỡng". Ở đó, ông gặp
những đồng chí mới bị bắt, được nghe họ kể lại rằng bài thơ Tiếng hát tử
tù đã lan khắp nơi. Khi ấy, ông mới biết bài thơ mình viết trong đêm tối đã trở
thành lời hiệu triệu của tuổi trẻ VN. "Người ta có thể xiềng chân tay, nhưng
không thể xiềng được ý chí. Tôi nghĩ chính niềm tin đã giữ cho mình sống sót,
chứ không phải may mắn", ông nói với giọng mạnh mẽ.
LÝ TƯỞNG KHÔNG BAO GIỜ CHẾT
Năm tháng sau chiến tranh, Lê Quang Vịnh trở lại đời sống thường dân - giản
dị, trầm tĩnh, ít nói về mình. Ông làm công tác giáo dục, công tác thanh niên,
rồi nghiên cứu, nhưng vẫn sống như người thầy cũ của bao thế hệ - kiên
nhẫn, hiền hậu, nguyên tắc. Giờ đây, khi tuổi đã 89, trí nhớ ông vẫn trong
trẻo. Ông kể lại những ngày bị bắt, bị tra khảo, bị lưu đày như thể chỉ vừa xảy
ra hôm qua. "Cái đáng sợ nhất không phải là cái chết, mà là khi người ta mất
niềm tin. Tôi không sợ chết, vì đã chọn con đường đúng", ông khẳng định.
Trong căn hộ chung cư, chúng tôi ngồi nghe ông đọc lại vài câu thơ năm xưa
- giọng vẫn rõ, từng chữ vang và mạnh: "Tôi đi trên đường Marx - Lenin/Theo
ánh sáng Hồ Chí Minh rực rỡ…". Đó không chỉ là lời thơ, mà là lời sống, được
viết bằng tuổi trẻ và niềm tin.
Hơn 6 thập niên đã qua nhưng ông vẫn nhớ từng từ bài thơ Tiếng hát tử
tù viết trong ngục tử tù Chí Hòa. Nhìn ông nói, đôi mắt sáng nhưng hiền,
người ta cảm nhận rõ ràng: đằng sau khuôn mặt bình dị ấy là một bản lĩnh phi
thường - bản lĩnh của người từng đi qua lằn ranh giữa sự sống và cái chết,
nhưng vẫn giữ nụ cười nguyên vẹn.
Câu chuyện của ông Lê Quang Vịnh không chỉ là hồi ức của một người từng
bị kết án tử hình. Đó là câu chuyện về niềm tin, khí phách và lòng trung thành
với lý tưởng cách mạng. Giữa bóng tối ngục tù, ông có niềm tin vững chắc
rằng ngày mai đất nước sẽ tự do. Giờ đây, khi ông đã gần 90 tuổi, Tiếng hát
tử tù vẫn còn trong ký ức nhiều thế hệ - như ngọn lửa không tắt của một thời
hoa lửa.
Một người có thể bị giam, bị đày, bị tuyên án tử hình nhưng lý tưởng thì
không bao giờ bị chôn vùi. "Tôi sẵn sàng hiên ngang lên máy chém/Hai chữ
vàng Cách Mạng chói trong tim…" (trích Tiếng hát tử tù).



