TIẾNG HÁT TỬ TÙ-LÊ QUANG VỊNH -
Dấu Mốc Mở Đầu Hành Trình Cách Mạng
Sinh năm 1936 tại Huế, ông Lê Quang Vịnh lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước. Bi kịch tuổi thơ khi chứng kiến cha mình bị lính Pháp bắn chết vào năm 14 tuổi đã trở thành động lực thôi thúc ông đi theo con đường cách mạng( Bi kịch trở thành dấu mốc mở đầu cho hành trình cách mang suốt đời).
Ngồi lặng nghe ông kể, nhìn ông - người đã đi qua gần một thế kỷ - kể về ngày thơ ấu mà giọng vẫn rắn rỏi: "Chính từ hôm đó (tức ngày chứng kiến cha bị lính Pháp bắn chết), tôi biết mình sẽ đi con đường cách mạng, dù có phải đánh đổi cả đời".
Năm 1950, ông tham gia phong trào học sinh kháng chiến tại Huế, tích cực rải truyền đơn và viết khẩu hiệu phản đối chính quyền bảo hộ. Dù từng bị bắt và giam giữ, ông vẫn giữ vững tinh thần, tiếp tục hoạt động sau khi ra tù.
"Hồi ấy chúng tôi chỉ có giấy, mực và cách in bột. Nhưng mỗi dòng chữ viết ra đều có thể đổi bằng mạng sống", ông nói, rồi kể tiếp: "Bị bắt, bị giam 7 tháng trong nhà lao Phủ Thừa, nhưng tôi vẫn không sợ. Ra tù, tôi lại tiếp tục".
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông gia nhập tổ chức thanh niên cách mạng bí mật.
"Họp đêm, đốt đuốc, bàn chuyện nước nhà. Ai cũng trẻ, ai cũng tin rằng đất nước sẽ thống nhất"
Từ năm 1954 đến 1957, ông liên tục bị bắt và cấm hoạt động chính trị tại Huế vì tham gia Báo Ngày Mai -tờ báo cách mạng đòi hiệp thương thống nhất đất nước. Rời Huế vào Sài Gòn, ông tiếp tục con đường học vấn và cách mạng. Ở tuổi 24, ông tốt nghiệp thủ khoa Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn và nhận bằng cử nhân toán học.
Có người hỏi: "Lúc đó ông nghĩ mình sẽ đi dạy, chứ chưa hẳn làm cách mạng?". Ông cười: "Tôi dạy học cũng là để làm cách mạng thôi. Cách mạng trong tư tưởng, trong lớp học". Không dừng lại ở đó, ông còn ghi danh học thêm luật khoa và văn khoa. "Chủ yếu để kết nối sinh viên nhiều trường, tạo mạng lưới phong trào trong lòng đô thị", ông nói. Ông quan niệm, việc dạy học cũng là một cách làm cách mạng, cách mạng trong tư tưởng và trong lớp học. Ông còn theo học luật khoa và văn khoa để mở rộng mạng lưới kết nối sinh viên. Với thành tích học tập xuất sắc, ông được nhận vào dạy tại trường Petrus Ký danh tiếng.
Năm 1961, theo yêu cầu của Khu ủy, Giáo sư Lê Quang Vịnh rời Sài Gòn ra căn cứ để chuẩn bị thoát ly. Tuy nhiên, ngay sau khi hoàn thành một bản báo cáo quan trọng, ông đã bị địch tấn công và bắt giữ.
"Hồi đó, tôi viết một bản báo cáo gửi sinh viên quốc tế, tổng kết phong trào học sinh, sinh viên miền Nam chống Mỹ - Diệm. Viết xong, chưa kịp gửi, thì địch tập kích", ông kể.
Khi Bản Án Tử Hình Được Tuyên Đọc
Ngày 24 tháng 5 năm 1962, Tòa án Sài Gòn tuyên án tử hình đối với Lê Quang Vịnh và nhiều đồng đội. Giữa đêm khuya, khi bản án được công bố, thay vì sợ hãi, họ đã cùng nhau đứng dậy hô vang khẩu hiệu phản đối và cất lên bài hát "Giải phóng miền Nam". Tiếng hát vang lên giữa bạo lực và cái chết, thể hiện sự hiên ngang và lời tuyên ngôn của cả một thế hệ tin vào lý tưởng.
Ông nhớ lại: "Lúc đó là 00 giờ 10 phút. Anh em chúng tôi đứng cả dậy hô: Đả đảo luật pháp phát xít miền Nam. Bọn lính nhào tới đánh, kéo lê chúng tôi xuống cầu thang và đẩy lên xe. Chúng tôi bắt đầu hát: Vùng lên, nhân dân miền Nam anh hùng… Hát để chứng minh rằng mình không sợ".
Ông nhớ lại những ngày bị giam tại ngục tử tù Chí Hòa, nơi mỗi phòng giam là một sự biệt lập. Dù vậy, anh em vẫn tìm cách liên lạc, động viên nhau. Khi đại tá Lê Văn Khoa đến thuyết phục ông viết đơn xin ân xá, ông đã kiên quyết từ chối. Chính trong đêm đó, ông đã viết nên bài thơ "Tiếng hát tử tù", một tác phẩm vượt qua những bức tường giam cầm. Bài thơ này sau đó đã được bí mật gửi ra ngoài, trở thành lời hiệu triệu, nguồn động viên cho tuổi trẻ Việt Nam. Dù đối mặt với cái chết, ông vẫn giữ được sự bình yên trong tâm hồn, bởi ông hiểu rõ lý do mình sống và sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng.
Ông kể: "4 tử tù chúng tôi bị đưa đến trại giam Chí Hòa và nhốt riêng từng người, mỗi người trong một phòng giam nhỏ nằm trong một khu mà về sau mới biết là ngục tử tù sắp bị hành quyết. Tuy bị nhốt trong 4 phòng cách biệt nhau, nhưng mỗi buổi sáng tôi vẫn được dẫn xuống tắm giặt chung ở một sân đất rộng có giếng nước nằm bên cạnh, nên chúng tôi vẫn liên hệ được với nhau. Vả lại, khi cần trao đổi, tôi cứ nói lớn tiếng thì các anh ở phòng bên cũng nghe được".
Sau đó, ông không bị hành quyết mà bị đày ra Côn Đảo, sống gần 3 năm trong Khu Tử hình. Tại đây, ông gặp gỡ nhiều đồng chí mới, lắng nghe những câu chuyện về sự lan tỏa của bài thơ "Tiếng hát tử tù". Ông nhận ra rằng, ý chí và niềm tin là thứ không thể bị xiềng xích.
Một đêm gần sáng, khi đang bị biệt giam, ông nghe tiếng động nhẹ ở khe cửa. Một cuộn giấy nhỏ bọc ni lông được đẩy vào. Bên trong là mảnh thư: "Đả đảo Mỹ - Diệm giết hại người yêu nước. Có gì cần nhắn gởi ra ngoài đời, cứ viết và gói lại như thế này, nhất định sẽ đến đúng nơi". Ông kể rằng ban đầu ông ngờ là bẫy gián điệp, nhưng rồi vẫn quyết định viết bài thơ Tiếng hát tử tù, bọc kín, đẩy ra ngoài.
Trong ngục tử tù Chí Hòa, ông bị giam trong căn phòng bít kín, nhưng ông không tuyệt vọng. "Ở đó, tôi thấy lòng mình bình yên lạ lùng. Bình yên của người đã hiểu vì sao mình sống, và nếu phải chết, thì cũng phải chết cho xứng đáng", ông bộc bạch.
Và rồi ông kể, thời gian trôi, ông không bị hành quyết mà bị đày ra Côn Đảo, sống gần 3 năm trong Khu Tử hình gọi là "Khu Tu dưỡng". Ở đó, ông gặp những đồng chí mới bị bắt, được nghe họ kể lại rằng bài thơ Tiếng hát tử tù đã lan khắp nơi. Khi ấy, ông mới biết bài thơ mình viết trong đêm tối đã trở thành lời hiệu triệu của tuổi trẻ VN. "Người ta có thể xiềng chân tay, nhưng không thể xiềng được ý chí. Tôi nghĩ chính niềm tin đã giữ cho mình sống sót, chứ không phải may mắn", ông nói với giọng mạnh mẽ.
Lý Tưởng Không Bao Giờ Chết
Sau chiến tranh, Lê Quang Vịnh trở về với cuộc sống đời thường, giản dị và trầm tĩnh. Ông tiếp tục công tác giáo dục, thanh niên và nghiên cứu. Ở tuổi 89, ông vẫn giữ được trí nhớ minh mẫn và giọng nói rắn rỏi khi kể về những năm tháng đấu tranh. Ông khẳng định điều đáng sợ nhất không phải là cái chết, mà là sự mất niềm tin. Ông không sợ chết vì đã chọn đúng con đường.
Câu chuyện của ông Lê Quang Vịnh không chỉ là hồi ức về một tử tù, mà còn là bản hùng ca về niềm tin, khí phách và lòng trung thành với lý tưởng. Giữa bóng tối ngục tù, ông đã thắp lên ngọn lửa hy vọng về một ngày mai đất nước tự do. Bài thơ "Tiếng hát tử tù" vẫn còn vang vọng trong ký ức nhiều thế hệ, như minh chứng cho ngọn lửa bất diệt của thời hoa lửa.
"Tôi đi trên đường Marx – Lenin,Theo ánh sáng Hồ Chí Minh rực rỡ…"
Ở tuổi 89, ông Lê Quang Vịnh vẫn minh mẫn nhớ lại từng giờ, từng ngày của chuỗi năm tháng trong ngục tù. Từng là tử tù giữa thời thanh xuân sôi nổi, ông đã không gục ngã, không cầu xin ân xá. Thay vào đó, ông cùng đồng đội đã cất lên những bài ca cách mạng, những khúc ca ý chí kiên cường, thể hiện tinh thần không khuất phục trước bạo lực và cái chết. Câu chuyện của ông là minh chứng cho một thế hệ trẻ Việt Nam dám sống, dám tin và dám hy sinh cả đời mình vì lý tưởng cao đẹp.
"Tôi sẵn sàng hiên ngang lên máy chém
Hai chữ vàng Cách Mạng chói trong tim…".
(Trích Tiếng hát người tử tù)



