Cựu chiến binh

TIẾNG KẺNG BÁO ĐỘNG TRÊN LÀNG BIỂN

Lào Cai22/05/2026sưu tầm (Tuổi trẻ xã Bảo Thắng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi là Nguyễn Văn Khoát, sinh năm 1944, quê ở một làng biển thuộc Thanh Hóa. Từ nhỏ, tôi đã quen với mùi mặn của gió biển, quen với tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền, quen với những buổi theo cha kéo lưới khi trời còn chưa sáng. Biển nuôi lớn chúng tôi bằng cá tôm, bằng những mùa nắng gió, bằng cả sự chịu thương chịu khó của người dân vùng cát trắng.

Khi chiến tranh lan rộng, làng biển của tôi không còn chỉ có thuyền lưới và chợ cá. Chúng tôi trở thành lực lượng dân quân ven biển, vừa đánh cá, vừa canh gác, vừa bảo vệ kho hàng và bến vận chuyển. Trên đồi cát gần làng có một chiếc kẻng lớn làm từ vỏ bom cũ. Mỗi khi máy bay địch tới, tiếng kẻng vang lên khô khốc, thúc mọi người chạy xuống hầm, thúc dân quân vào vị trí.

Tôi được phân công cùng đội dân quân trực chiến gần bến. Trong đội có cô Lê Thị Tám, sinh năm 1948, con gái một gia đình làm nghề phơi cá. Tám nhanh nhẹn, gan dạ, mắt sáng như sao biển đêm. Cô phụ trách gõ kẻng báo động và chuyển đạn cho trận địa súng máy. Lúc rảnh, Tám hay ngồi vá lưới cùng mẹ tôi, miệng hát những câu hò biển nghe vừa vui vừa buồn.

Một buổi chiều năm 1966, biển đang động mạnh. Gió thổi cát bay mù mịt. Bến làng hôm ấy có một chuyến hàng quan trọng vừa được chuyển từ ngoài khơi vào. Đó là thuốc men và lương thực cần đưa gấp vào tuyến trong. Chúng tôi vừa bốc hàng xuống hầm thì có tiếng máy bay từ phía biển vọng tới.

Tám là người nghe thấy đầu tiên. Cô lao lên đồi cát, cầm dùi gõ kẻng. Tiếng kẻng vang dội khắp làng: keng, keng, keng. Người già, trẻ nhỏ vội chạy xuống hầm. Dân quân chúng tôi vào vị trí. Tôi nhìn lên, thấy Tám vẫn đứng bên chiếc kẻng, áo bà ba bay phần phật trong gió cát.

Máy bay lao tới rất thấp. Bom trút xuống khu vực bến. Cát, nước, gỗ thuyền văng tung tóe. Một khoang hầm chứa hàng bị lộ ra. Nếu địch phát hiện và đánh tiếp, số hàng sẽ mất hết. Chúng tôi vừa bắn trả vừa tìm cách che lại cửa hầm.

Đúng lúc ấy, một tốp máy bay khác vòng lại. Tám vẫn tiếp tục gõ kẻng, dù mọi người đã xuống hầm. Tôi hét lên: “Tám, xuống đi!” Nhưng cô lắc đầu, chỉ tay về phía cuối làng. Tôi hiểu. Vẫn còn một nhóm trẻ con đang chạy trên bãi cát, chưa kịp vào hầm. Tiếng kẻng của Tám là tín hiệu cuối cùng để chúng biết hướng trú ẩn.

Tôi chạy về phía bọn trẻ, kéo từng đứa xuống hầm cát. Bom nổ phía sau, tiếng kẻng bỗng ngừng lại. Khi trận bom dứt, tôi lao lên đồi. Chiếc kẻng vẫn còn đó, nhưng Tám nằm bên cạnh, tay còn nắm chặt chiếc dùi gõ. Mảnh bom đã cướp cô đi khi cô mới mười tám tuổi.

Cả làng lặng đi trong buổi chiều ấy. Mẹ Tám ôm con, không khóc thành tiếng, chỉ vuốt tóc con mãi. Chiếc áo cô mặc vẫn còn dính đầy cát. Tôi đứng bên cạnh, hai bàn tay buông thõng, thấy lòng mình trống rỗng như bãi biển sau cơn bão.

Sau ngày Tám mất, chiếc kẻng trên đồi cát vẫn được treo lại. Mỗi lần nó vang lên, chúng tôi lại nhớ đến cô. Có người đề nghị thay chiếc kẻng khác, nhưng dân làng không chịu. Chiếc kẻng ấy đã mang tiếng gọi của Tám. Nó không chỉ báo động máy bay, mà còn đánh thức lòng can đảm trong mỗi người dân làng biển.

Chiến tranh kết thúc, làng tôi trở lại nghề biển. Thuyền ra khơi nhiều hơn, chợ cá lại đông vui. Trẻ con sinh sau hòa bình không còn phải chạy hầm khi nghe tiếng máy bay. Nhưng chiếc kẻng vỏ bom vẫn được giữ trong nhà truyền thống của xã. Mỗi lần nhìn nó, tôi lại nghe rõ âm thanh năm ấy, tiếng keng khô khốc vang trên cát, tiếng gọi sinh mạng giữa bom rơi.

Tôi đã già, không còn đi biển được nữa. Nhưng mỗi sáng ra ngồi trước hiên, nghe tiếng sóng, tôi lại nhớ Tám. Tôi nhớ một cô gái làng biển nhỏ bé đã đứng trên đồi cát, giữa gió và bom, gõ đến tiếng kẻng cuối cùng để cứu dân làng. Với tôi, cô là một bông hoa lửa nở bên biển mặn, cháy sáng mà dịu dàng như ánh đèn thuyền trong đêm.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn