TIẾNG KẺNG CHIỀU 2 THÁNG 12 Ở NHÀ LAO TÂN HIỆP
Có những địa danh, nếu chỉ đi ngang qua trong nhịp sống hôm nay, ta dễ nghĩ đó chỉ là một góc phố bình thường của thành phố. Nhưng phía sau sự bình yên ấy đôi khi là cả một trời ký ức, là máu, nước mắt và khí phách của những con người đã từng sống, chiến đấu, hy sinh cho Tổ quốc. Với tôi, Nhà lao Tân Hiệp ở phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là một địa danh như thế. Nơi ấy không chỉ là một di tích lịch sử, mà còn là chứng tích của ý chí không chịu khuất phục, nơi đã diễn ra cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2 tháng 12 năm 1956.
Trong câu chuyện hào hùng ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với ông Nguyễn Văn Thông, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa, một trong những chiến sĩ xung kích cướp kho súng, vượt ngục Tân Hiệp. Nhắc đến ông là nhắc đến hình ảnh một người chiến sĩ cách mạng gan dạ, bình tĩnh và quyết đoán trong thời khắc sinh tử. Ông không chỉ là người chứng kiến lịch sử, mà còn trực tiếp góp phần làm nên một dấu mốc đầy tự hào trong phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam.
Cuối năm 1956, Nhà lao Tân Hiệp là nơi giam giữ hơn một nghìn tù nhân, trong đó có nhiều cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cách mạng. Địch canh phòng nghiêm ngặt, nhà lao được bao bọc bằng kẽm gai, tháp canh, lính gác và kho súng. Trong mắt kẻ thù, đó là nơi để giam cầm thân thể, để bẻ gãy ý chí đấu tranh. Nhưng chúng đã lầm. Bên trong những bức tường tù ngột ngạt ấy, những người cộng sản vẫn âm thầm liên lạc, tổ chức lực lượng và nuôi giữ một niềm tin không gì dập tắt được: phải thoát khỏi nhà lao để trở về với cách mạng, tiếp tục chiến đấu vì độc lập, tự do.
Điều khiến tôi xúc động là cuộc vượt ngục ấy không phải là hành động bồng bột. Đó là kết quả của sự chuẩn bị bí mật, kỷ luật và đầy táo bạo. Những người tù chính trị liên lạc với nhau bằng ám hiệu, chọn những người khỏe mạnh, có kinh nghiệm chiến đấu, có bản lĩnh chính trị vững vàng để làm lực lượng xung kích. Trong hoàn cảnh chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể bị đàn áp, thậm chí bị thủ tiêu, họ vẫn giữ được sự bình tĩnh đến lạ thường. Chính trong chốn lao tù, khí chất của người chiến sĩ cách mạng càng sáng lên.
Chiều ngày 2 tháng 12 năm 1956, thời khắc lịch sử đã đến. Sau tiếng kẻng lúc 17 giờ 30 phút, hàng trăm tù chính trị đồng loạt vùng dậy. Tôi hình dung khoảnh khắc ấy chắc hẳn vô cùng dữ dội: tiếng chân người lao ra khỏi trại giam, tiếng hô vang trong căm phẫn và quyết tâm, tiếng súng nổ giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Khoảng bảy mươi người tay không xông về phía kho súng, giáp lá cà với lính địch, cướp lấy vũ khí để mở đường vượt thoát.
Trong mũi xung kích ấy, ông Nguyễn Văn Thông lúc đó là tổ trưởng tổ đảng trại E, đã chỉ huy 17 người cướp được 13 khẩu súng. Hình ảnh ông cầm khẩu trung liên, cùng đồng đội đọ súng với địch để bảo vệ đoàn tù vượt thoát, khiến tôi không khỏi xúc động và khâm phục. Trong phút giây ấy, không ai có thời gian nghĩ cho riêng mình. Phía trước là tự do, là con đường trở về với cách mạng. Phía sau là nhà tù, là kìm kẹp, là cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Vậy mà họ vẫn tiến lên, bởi trong tim họ có một điều lớn hơn nỗi sợ: lý tưởng.
Cuộc vượt ngục Tân Hiệp đã giải thoát 462 tù nhân chính trị. Đó là con số làm ta tự hào, nhưng cũng là con số khiến ta lặng đi khi nhớ rằng 22 người đã ngã xuống trong khu vực nhà lao. Trong số đó có nhà báo, nhà văn Dương Tử Giang, người đã hy sinh trên đường vượt thoát. Nhiều năm sau, khi kể lại khoảnh khắc ấy, ông Nguyễn Văn Thông vẫn xúc động. Điều đó cho thấy chiến tranh không chỉ để lại những chiến công, mà còn để lại trong lòng người sống sót những ký ức không thể nguôi quên. Mỗi người thoát ra là một niềm hy vọng trở về với cách mạng. Mỗi người ngã xuống là một phần máu thịt gửi lại cho đất này.
Từ câu chuyện của ông Nguyễn Văn Thông và cuộc vượt ngục Nhà lao Tân Hiệp, tôi hiểu rằng lòng yêu nước không chỉ nằm trong những lời nói lớn lao. Lòng yêu nước có khi là sự im lặng chịu đựng trong lao tù, là một ánh mắt trao nhau bằng ám hiệu, là giây phút tay không lao vào kho súng, là quyết định đứng lại đọ súng để đồng đội có đường thoát. Những con người ấy đã sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt hơn chúng ta rất nhiều, nhưng họ không buông xuôi, không khuất phục, không đánh mất niềm tin.
Hôm nay, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa đã đổi thay. Cuộc sống đã yên bình hơn, những thế hệ sinh ra sau chiến tranh như chúng tôi được học tập, làm việc, mơ ước và xây dựng tương lai. Nhưng chính vì được sống trong hòa bình, chúng tôi càng phải biết cúi đầu trước quá khứ. Nhà lao Tân Hiệp không nên chỉ là một cái tên trong tài liệu lịch sử, mà phải trở thành một địa chỉ đỏ trong nhận thức của người dân Đồng Nai, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đến với di tích ấy, tìm hiểu về những người như ông Nguyễn Văn Thông, chúng ta sẽ hiểu rằng tự do hôm nay đã được đánh đổi bằng biết bao hy sinh.
Theo bước chân những người anh hùng không có nghĩa là chúng ta phải sống lại những năm tháng chiến tranh. Theo bước chân họ là biết sống có lý tưởng, có kỷ luật, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, quê hương và đất nước. Là học tập nghiêm túc hơn, lao động tận tụy hơn, không thờ ơ với lịch sử địa phương, không vô cảm trước sự hy sinh của người đi trước. Là biết gìn giữ những di tích như Nhà lao Tân Hiệp, biết kể lại cho người khác nghe những câu chuyện đáng tự hào của quê hương mình.
Tiếng kẻng chiều 2 tháng 12 năm 1956 đã lùi xa trong thời gian, nhưng âm vang của nó vẫn còn đó. Đó là âm vang của lòng dũng cảm, của niềm tin, của khát vọng tự do. Và trong âm vang ấy, hình ảnh người chiến sĩ xung kích Nguyễn Văn Thông vẫn nhắc nhở tôi rằng: sống trong hòa bình là một may mắn, nhưng sống sao cho xứng đáng với hòa bình ấy mới là trách nhiệm của mỗi chúng ta hôm nay.
Ông Nguyễn Văn Thông, nguyên bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa, một trong những chiến
sĩ xung kích cướp kho súng, vượt ngục Tân Hiệp ngày 2-12-1956.



