Tiếng Kẻng Đêm Trời Kin Chu Phìn 1
Tôi là Lý Ta Go, người bản Kin Chu Phìn 1. Tôi sinh sau ngày bản hết phỉ, nhưng lớn lên trong tiếng kể của ông tôi – một người du kích ngày ấy. Ông bảo: “Con cháu muốn mạnh thì phải nhớ chuyện cũ, để biết mình đứng trên đất nào.”
Ngày xưa, bản Kin Chu Phìn 1 hắt hiu như chiếc lá treo trên sườn núi. Phỉ quấy phá dữ lắm. Nương người ta gieo hạt thì chúng giẫm nát, thóc đang phơi thì chúng cướp. Ruộng bỏ hoang, cỏ mọc cao quá gối, đói nghèo bám chặt từng nóc nhà. Người dân sợ hơn sợ cọp rừng.
Một ngày đầu năm 1952, cán bộ huyện Bát Xát và cán bộ xã Mường Hum lên bản họp. Ông tôi kể, họ chỉ có mấy người, áo chàm bạc màu, vai đeo túi vải, nhưng lời nói mạnh như tiếng kẻng gọi bản. Họ quán triệt nghị quyết, nói về chính sách ruộng đất, chính sách thuế nông nghiệp, giải thích cho dân hiểu từng chữ.
Ông tôi nhớ rõ cán bộ nói:
“Thuế là để nuôi kháng chiến, đất là để trao lại cho người cày, không để phỉ hay Việt gian chiếm giữ.”
Dân bản nghe xong thì gật đầu, mắt ai cũng sáng lên như bắt được mùa mới.
Cán bộ còn dạy dân làm nương theo cách mới: bón phân cho lúa, trồng ngô nơi ruộng khô, làm cỏ theo hàng thẳng tắp. Có người vừa đeo gùi giống, vừa đeo súng đi tuần. Có đêm, tiếng kẻng báo phỉ vang lên, cả bản vùng dậy. Phụ nữ gạo giã gùi gạo, đàn ông theo du kích rải ra các lối mòn. Trẻ con được bà con bế vào trong, trùm áo cho khỏi rét.
Bản Kin Chu Phìn 1 còn lập tổ giấu lương nuôi du kích. Những bao thóc được cất dưới hố đất, phủ lá ngụy trang. Phỉ có vào bản cũng không cướp được hạt nào.
Đến năm 1955, khi vùng này sạch bóng phỉ, ông tôi đứng giữa sân bản và nói với dân:
“Đảng cho mình đường sáng, Nhà nước cho mình đất. Bản sống được là nhờ lòng dân một dạ. Mai sau con cháu đừng quên.”
Giờ tôi kể lại để bọn trẻ trong bản ghi lòng:
Đất Kin Chu Phìn 1 này được gìn giữ bằng mồ hôi ông bà. Con cháu phải giữ bằng học, bằng hiểu đúng – sai, bằng đoàn kết như cây rừng đứng sát nhau trước gió. Đừng để bản mình rơi vào tối tăm như xưa.



