Tiếng khèn của người anh hùng Cơ Tu bên dòng sông Kôn
Anh hùng LLVTND Alăng Bảy là người con ưu tú của đồng bào Cơ Tu, từng lập nhiều chiến công trong kháng chiến chống Mỹ, tiêu biểu là những trận đánh bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng trường. Sau chiến tranh, ông tiếp tục sống bình dị, giúp dân phát triển kinh tế, gìn giữ văn hóa truyền thống Cơ Tu và trở thành tấm gương sáng về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.
Từ bao đời nay, dòng sông Kôn khởi nguồn từ dãy núi Mang, qua bao thác ghềnh rồi xuôi dòng ôm ấp những bản làng Cơ Tu. Trên vùng quê giàu truyền thống đấu tranh cách mạng ở xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, có một già làng tiêu biểu mà tên tuổi gắn liền với những chiến công hiển hách. Đó là già làng Alăng Bảy, người anh hùng của đại ngàn Trường Sơn trong những năm chống Mỹ, cứu nước, đồng thời là người con bình dị, thương dân của đồng bào Cơ Tu.
Anh hùng Alăng Bảy sinh năm 1930 tại xã Atiêng, huyện Hiên, nay thuộc vùng Đông Giang, Quảng Nam. Sinh ra trong buôn làng Cơ Tu nghèo khó, chứng kiến đồng bào lam lũ, chiến tranh tàn khốc và kẻ địch dã man giết hại người vô tội, ông sớm nuôi trong lòng mối căm thù giặc sâu sắc. Năm 1958, ông thoát ly theo cách mạng và hai năm sau được kết nạp vào Đảng.
Trong bối cảnh chiến tranh ngày càng ác liệt, năm 1963, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam điều động Alăng Bảy về tăng cường cho Huyện đội Tây Giang, nay là Ban Chỉ huy Quân sự huyện Tây Giang, đảm nhiệm chức vụ trợ lý tác chiến. Sau đó, thực hiện chủ trương tăng cường cán bộ chủ chốt cho cơ sở, Huyện đội Tây Giang điều ông về giữ chức chính trị viên kiêm xã đội trưởng, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Atiêng, rồi Bí thư xã Atiêng từ năm 1968 đến năm 1975. Chính trong giai đoạn này, Alăng Bảy đã lập nên nhiều chiến công xuất sắc.
Một trong những kỳ tích nổi bật nhất của Anh hùng Alăng Bảy là dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ. Năm 1962, tại khu vực đồi Ahu, xã Atiêng, ông cùng các chiến sĩ đang kiên trì mai phục thì phát hiện một chiếc máy bay trinh sát HU 1A của Mỹ quần lượn sát đồi và chuẩn bị hạ cánh. Lợi dụng địa hình, ông cùng hai chiến sĩ bò lên sát đỉnh đồi, chọn vị trí ẩn nấp và chờ thời cơ nổ súng. Khi chiếc máy bay hạ thấp độ cao, ông nã một phát đạn súng trường khiến máy bay bốc cháy, chao đảo rồi lao xuống khe núi Ahu.
Đến mùa thu năm 1963, tại sân bay dã chiến trên đồn Aró, xã Lăng, Alăng Bảy cùng đồng chí Bnướch Tâm chỉ huy một tiểu đội gồm 10 chiến sĩ bí mật lẻn vào sân bay phục kích từ khoảng 3 giờ sáng. Sau thời gian kiên trì chờ đợi, khi trời vừa rạng sáng, ông ra lệnh nổ súng, tiêu diệt 43 tên địch và bắn cháy hai máy bay trực thăng Mỹ. Trước đòn đánh bất ngờ, quân địch hoảng loạn, gọi lực lượng tăng viện bao vây, nhưng ông cùng đồng đội đã nhanh chóng mở đường thoát khỏi vòng vây, cơ động vào rừng sâu và trở về đơn vị an toàn.
Cuối tháng 5 năm 1968, Alăng Bảy cùng bốn du kích địa phương mật phục trên đỉnh núi thuộc thôn Za Rươt, xã Atiêng. Khi một chiếc trực thăng Mỹ chở biệt kích chuẩn bị hạ cánh xuống gần khu vực ẩn náu của lực lượng ta, ông lập tức chớp thời cơ nổ súng. Chiếc máy bay trúng đạn, chao đảo và phải hạ cánh khẩn cấp. Ngay sau đó, Alăng Bảy cùng đồng đội nhanh chóng ập tới, đồng loạt nổ súng tiêu diệt năm tên địch, trong đó có hai tên giặc lái, thu bốn khẩu súng và bắt sống cả chiếc máy bay.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Alăng Bảy tham gia chiến đấu 35 trận, cùng đồng đội bắn hạ 10 máy bay, tiêu diệt 301 tên địch, bắt sống 37 tên và làm bị thương hàng trăm tên địch. Riêng ông tiêu diệt 51 tên địch, làm bị thương 46 tên và bắn rơi 3 máy bay lên thẳng. Với những chiến công tiêu biểu, ông được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương, bằng khen, giấy khen và đến năm 2015 được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Không chỉ là người chiến sĩ gan dạ trên chiến trường, Alăng Bảy còn là già làng bình dị, giàu tình nghĩa và luôn thương dân. Trong những dịp lễ hội ở thôn văn hóa Bhơ Hôồng, người ta thường thấy ông thổi những làn điệu dân ca Cơ Tu bằng chiếc khèn Abel. Với ông, tiếng khèn là cách để vơi đi nỗi nhớ đồng đội, những người đã cùng ông đi qua chiến tranh, có người còn sống, có người đã mãi mãi nằm lại giữa đại ngàn.
Năm 1995, Alăng Bảy về hưu khi trên người vẫn còn mang bốn vết thương chiến tranh, trong đó có một mảnh lựu đạn nằm trong đùi phải. Dù được nghỉ hưu, ông vẫn không chịu ngồi yên. Ông tiếp tục được người dân tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Nông dân, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Sông Kôn. Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, ông vừa tham gia công tác đoàn thể địa phương, vừa phát triển kinh tế gia đình với hơn 5 ha rừng trồng kết hợp chăn nuôi bò, trở thành hộ khá giả trong làng.
Khi nhìn thấy thôn Bhơ Hôồng còn nghèo khó, đất đai bạc màu, khí hậu khắc nghiệt, đời sống người dân gặp nhiều thiếu thốn, Alăng Bảy luôn trăn trở về con đường giúp bà con thoát nghèo. Ông hiểu rằng đồng bào đã quen với lối sống du canh, du cư và tập tục canh tác cũ, nên việc chuyển sang định canh, định cư không thể thực hiện trong một sớm một chiều. Vì vậy, ông bắt đầu bằng việc vận động bà con từ bỏ thói quen đốt rừng, khai hoang đất đồi để trồng bắp, trồng mì, trước hết là giải quyết cái đói.
Ban đầu, nhiều người chưa tin những điều ông nói và làm. Không nản lòng, Alăng Bảy chủ động làm gương. Từ sáng tinh mơ, khi con gà rừng vừa gáy, ông đã vác cuốc lên nương. Đôi bàn tay từng quen cầm súng, cầm cung tên đánh giặc, nay cầm cuốc đến phồng rộp, bỏng rát. Nhờ sự cần cù, chịu khó và quyết tâm, ông đã cùng bà con cải tạo vùng đất hoang thành những nương bắp, nương mì xanh tốt. Từ tấm gương của ông, người dân dần thay đổi nhận thức, làm theo và từng bước vượt qua đói nghèo.
Khi đời sống đã khá hơn, Alăng Bảy lại đau đáu trước nguy cơ lớp trẻ không còn mặn mà với văn hóa truyền thống Cơ Tu. Ông tiên phong tuyên truyền, vận động thanh thiếu niên học các làn điệu dân ca, hướng dẫn con cháu sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc. Nhờ sự kiên trì ấy, nhiều thanh thiếu niên trong làng đã biết sử dụng nhạc cụ truyền thống, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Cơ Tu.
Ở tuổi ngoài 90, già làng Alăng Bảy vẫn vững vàng như cây lim, cây táu giữa đại ngàn. Ông thường nói rằng là đảng viên thì phải gương mẫu, là cán bộ thì phải thương dân. Lời nói và hành động của ông luôn thống nhất. Dù sức khỏe không còn như trước, ông vẫn tích cực cùng con cháu lao động sản xuất, tham gia giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống. Mỗi mùa lễ hội hay các cuộc liên hoan văn hóa, văn nghệ, ông lại cùng con cháu biểu diễn nhạc cụ dân tộc, để tiếng khèn, tiếng sáo Cơ Tu tiếp tục vang vọng giữa núi rừng.
Ngày 1 tháng 10, núi rừng Bắc Quảng Nam se lạnh, những giọt mưa rơi đều trên mái nhà rông thôn văn hóa Bhơ Hôồng. Dòng sông Kôn vẫn lặng lẽ chảy xuôi, nhưng người dân Đông Giang bỗng thấy buồn và tiếc thương khi người anh hùng của quê hương đã về với tiên tổ. Sau thời gian dài chống chọi với bệnh tật, Anh hùng Alăng Bảy trút hơi thở cuối cùng trong niềm tiếc thương của người thân và bà con thôn xóm.
Già làng Alăng Bảy ra đi, nhưng cuộc đời và những đóng góp của ông vẫn còn mãi với quê hương. Ông là biểu tượng của lòng dũng cảm trong chiến đấu, sự tận tụy trong đời thường và tình yêu sâu nặng với đồng bào Cơ Tu. Tiếng khèn, tiếng sáo và những ân tình của người anh hùng bên dòng sông Kôn sẽ còn vang vọng mãi với thời gian.


