Cựu Thanh niên xung phong

Tiếng khèn lá bên dòng Sê Pôn

Nghệ An20/08/2026Xã Hùng Châu (Đoàn xã Hùng Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiếc lá vừa hái trên cây được ông Quang đặt ngang môi. Ông thổi nhẹ, một âm thanh mỏng và trong vang lên giữa sân. Lũ trẻ ngồi quanh bật cười vì không ngờ một chiếc lá bình thường lại có thể phát ra tiếng.

Ông Quang bảo chính tiếng lá ấy đã giúp ông làm quen với một cậu bé Lào bên dòng Sê Pôn hơn nửa thế kỷ trước.

Quang sinh năm 1946 ở Diễn Đoài. Ông lớn lên trong gia đình làm nông, quen tiếng sáo của đám trẻ chăn trâu và những câu ví của mẹ trong buổi làm đồng. Năm 1965, ông nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, đơn vị được giao nhiệm vụ sang giúp cách mạng và nhân dân Lào.

Trước khi đi, Quang chỉ biết đất nước Lào qua bản đồ. Ông không biết tiếng Lào, cũng chưa hình dung núi rừng bên ấy ra sao. Mẹ gói cho ông ít muối vừng, căn dặn sang đất bạn phải tôn trọng phong tục, sống thật thà và đừng làm điều gì khiến người dân buồn lòng.

Đơn vị hành quân qua những cánh rừng nối tiếp nhau. Có đoạn đường mưa nhiều, đất bám nặng dưới dép. Có bản nằm nép bên sườn núi, mái nhà thấp, khói bếp bay giữa tán cây. Người dân Lào tuy cuộc sống còn thiếu thốn nhưng vẫn chia cho bộ đội Việt Nam nước uống và những nắm xôi.

Quang được phân công làm công tác vận tải, hỗ trợ đưa lương thực và thuốc men đến các đơn vị, bản làng. Công việc đòi hỏi ông cùng đồng đội đi nhiều, gặp nhiều người dân địa phương. Ban đầu, bất đồng ngôn ngữ khiến việc trò chuyện khó khăn. Hai bên chủ yếu dùng ánh mắt, cử chỉ và một số từ đơn giản.

Một lần, đơn vị dừng gần một bản nhỏ bên dòng Sê Pôn. Trong lúc lấy nước, Quang gặp cậu bé Lào khoảng mười hai tuổi đang ngồi thổi một chiếc lá. Âm thanh khi cao khi thấp, nghe giống tiếng chim gọi nhau trong rừng.

Quang tò mò ngồi xuống. Cậu bé đưa ông một chiếc lá rồi ra hiệu thổi thử. Quang làm theo nhưng chỉ phát ra tiếng gió. Cậu bé cười nghiêng ngả, sau đó kiên nhẫn chỉ lại. Thử nhiều lần, cuối cùng Quang cũng tạo được một âm thanh ngắn.

Hai người không nói được với nhau bao nhiêu, vậy mà từ hôm đó thành quen. Cậu bé tên là Khăm. Mỗi khi thấy đơn vị đến gần bản, Khăm lại chạy ra giúp lấy nước hoặc chỉ đường đến những gia đình cần thuốc.

Khăm có một người bà thường đau chân. Quang báo với quân y đơn vị, nhờ đến thăm. Người quân y kiểm tra, hướng dẫn gia đình chăm sóc và để lại một số thuốc phù hợp. Mấy ngày sau, bà cụ khỏe hơn, mang đến cho bộ đội một giỏ xôi nhỏ.

Quang định từ chối vì biết gia đình cũng không dư dả. Bà cụ vẫn đặt giỏ xôi xuống rồi chắp hai tay cảm ơn. Ông nhận lấy, chia cho cả tổ và thấy bữa xôi hôm ấy thơm như cơm nếp ở quê.

Những tháng tiếp theo, tình hình chiến trường trở nên căng thẳng. Bản của Khăm phải sơ tán đến nơi an toàn hơn. Đơn vị của Quang hỗ trợ người dân chuyển đồ dùng thiết yếu. Khăm ôm một chiếc giỏ đựng vài quyển sách, nhất quyết không để thất lạc. Cậu ra hiệu rằng sau này muốn tiếp tục đi học.

Trước khi rời bản, Khăm tặng Quang một chiếc lá đã phơi khô, được ép giữa hai miếng tre mỏng. Quang hiểu đó là vật kỷ niệm. Ông lấy trong túi một chiếc bút chì ngắn, trao lại cho cậu bé. Hai người chỉ kịp nắm tay nhau rồi mỗi người đi theo một hướng.

Quang tiếp tục làm nhiệm vụ trên nhiều cung đường Nam Lào. Trong ba lô, chiếc lá ép khô được cất chung với thư nhà. Những lúc mệt, ông lấy ra nhìn và nhớ cậu bé Khăm cùng giấc mơ trở lại lớp học.

Ông dần học được một số câu tiếng Lào thông dụng. Ông hiểu thêm phong tục của người dân và nhận ra tình bạn không chỉ được xây bằng lời nói. Một bát nước, một nắm xôi, một lần giúp người già hay một cây bút chì cũng có thể làm hai con người trở nên gần gũi.

Năm 1973, Quang trở về Việt Nam. Chiếc lá khô đã vỡ một phần sau nhiều năm hành quân, nhưng hai thanh tre vẫn còn. Ông mang nó về Diễn Đoài, đặt trong cuốn sổ cũ.

Sau này, ông nhiều lần mong được trở lại bản ven dòng Sê Pôn để tìm Khăm. Nhưng địa danh thay đổi, thông tin ít ỏi, cuộc tìm kiếm chưa có kết quả. Ông không biết cậu bé năm xưa đã trở thành thầy giáo, người nông dân hay một cán bộ của bản.

Dù vậy, ông tin Khăm đã được trở lại trường. Niềm tin ấy khiến câu chuyện của ông không kết thúc bằng sự chia xa, mà bằng hy vọng.

Khi nói chuyện với thiếu nhi xã Hùng Châu, ông Quang thường hái một chiếc lá, thổi lại âm thanh năm cũ. Ông bảo tình hữu nghị Việt – Lào không phải điều gì xa xôi. Nó được vun đắp từ những con người bình thường đã cùng nhau chia sẻ gian khó, tôn trọng nhau và mong cho trẻ em hai nước đều được học hành trong hòa bình.

Tiếng lá vang lên, mỏng như sợi chỉ nhưng nối được sân nhà Diễn Đoài với một bản nhỏ bên dòng Sê Pôn. Trong âm thanh ấy, ông Quang vẫn hình dung cậu bé Khăm đang ngồi bên bờ nước, tay cầm chiếc bút chì ngắn và mỉm cười với người lính trẻ đến từ xứ Nghệ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn