TIẾNG KHÓC BÊN DÒNG KINH THẦY CAI: THẢM KỊCH "MỘT CỔ HAI TRÒNG" VÀ ĐÊM TRƯỚC CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN ĐỨC LẬP (1944 - 1945)
TIẾNG KHÓC BÊN DÒNG KINH THẦY CAI: THẢM KỊCH "MỘT CỔ HAI TRÒNG" VÀ ĐÊM TRƯỚC CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN ĐỨC LẬP (1944 - 1945)
TIẾNG KHÓC BÊN DÒNG KINH THẦY CAI: THẢM KỊCH "MỘT CỔ HAI TRÒNG" VÀ ĐÊM TRƯỚC CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN ĐỨC LẬP (1944 - 1945)
Trong dòng chảy đau thương nhưng anh dũng của lịch sử dân tộc giai đoạn 1944 - 1945, khi miền Bắc oằn mình gánh chịu thảm kịch Nạn đói Ất Dậu cướp đi hơn hai triệu sinh linh, thì ở mảnh đất Nam Bộ nói chung và làng quê cách mạng Đức Lập (Đức Hòa, Long An) nói riêng, nhân dân cũng phải trải qua những tháng ngày đen tối nhất dưới ách thống trị tàn bạo của liên minh thực dân Pháp và phát xít Nhật. Cảnh tượng "một cổ hai tròng" đã đẩy người nông dân Đức Lập vào bước đường cùng, nhưng chính từ sự áp bức tột cùng ấy, ngọn lửa uất hận đã biến thành bão táp cách mạng.
Giữa hai gọng kìm tàn bạo: Sức ép từ chính sách vơ vét
Tháng 9 năm 1940: Phát xít Nhật tràn vào Đông Dương. Thực dân Pháp hèn nhát quỳ gối đầu hàng, chấp nhận làm tay sai, dâng tài nguyên và huyết mạch kinh tế cho Nhật. Kể từ thời điểm này, người dân Đức Lập chính thức rơi vào thảm cảnh "một cổ hai tròng". Để có tiền nộp cho Nhật và duy trì bộ máy cai trị, Pháp tăng cường sưu thuế, còn Nhật thì điên cuồng vơ vét lúa gạo, ép buộc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để phục vụ cho cỗ máy chiến tranh phát xít.
Đầu năm 1944: Nằm ở vị trí chiến lược ven kinh Thầy Cai, cận kề các tuyến hành lang giao thông kết nối miền Đông và miền Tây Nam Bộ, Đức Lập trở thành địa bàn bị phong tỏa và kiểm soát kinh tế gắt gao. Chế độ "độc quyền thu mua lúa gạo" và chính sách kiểm soát vận chuyển nông sản được siết chặt. Thực dân Pháp và tay sai hội tề địa phương lùng sục tận các xóm ấp, buộc nông dân phải kê khai và nộp phần lớn sản lượng lúa thu hoạch được với giá rẻ mạt, thậm chí cưỡng ép thu mua đến hạt thóc giống cuối cùng của người nghèo.
Giữa năm 1944: Sự thiếu hụt nhu yếu phẩm và hàng hóa trầm trọng bắt đầu diễn ra. Do Nhật bao chiếm toàn bộ các kho dầu, xăng và phương tiện vận tải, việc giao thương bị đình trệ. Giá cả các mặt hàng thiết yếu như vải vóc, muối, thuốc men tăng phi mã. Người nông dân Đức Lập dù một sương hai nắng trên ruộng đồng nhưng cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhiều gia đình phải mặc áo bằng bao bố mốp, ăn củ mài, rau dại qua ngày.
Cuối năm 1944 đến mùa xuân 1945: Khúc quanh u tối và sự phản kháng âm thầm
Mặc dù thảm cảnh chết đói hàng loạt không diễn ra khốc liệt như ở các tỉnh Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ do điều kiện tự nhiên Nam Bộ thuận lợi hơn, song cái đói, cái nghèo và sự bạo ngược của kẻ thù vẫn phủ một bóng đen u ám lên từng mái nhà tranh ở Đức Lập.
Tháng 12 năm 1944: Sưu cao thuế nặng cùng cái lạnh mùa đông khiến đời sống tá điền và bần nông tại địa phương rơi vào kiệt quệ. Bọn lính tề xã, mật thám Pháp và hiến binh Nhật liên tục tổ chức các cuộc lùng sục, bắt bớ thanh niên đi phu, đi lính phục dịch cho các công trình quân sự của Nhật. Nỗi căm hờn ngút trời dồn nén trong lòng mỗi người dân mất nước.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945: Nhật nổ súng đảo chính Pháp trên toàn Đông Dương nhằm độc chiếm quyền cai trị. Bộ mặt thật của phát xít Nhật bộc lộ rõ ràng khi chúng tiếp tục duy trì bộ máy hội tề cũ để áp bức nhân dân. Tại Đức Lập, cuộc sống của người dân không hề khấm khá hơn mà trái lại càng ngột ngạt hơn dưới lưỡi gươm của hiến binh Nhật (Kempeitai).
Mùa xuân năm 1945: Giữa lúc đời sống tăm tối nhất, những đảng viên cộng sản và các chiến sĩ mật của Mặt trận Việt Minh hoạt động bí mật tại vùng bưng biền kinh Thầy Cai đã kịp thời bắt rễ vào quần chúng. Bản chỉ thị lịch sử "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Trung ương Đảng được phổ biến rộng rãi đến từng chi bộ cơ sở. Các khẩu hiệu dân sinh, đòi giảm tô, chống thu thóc, đòi mở kho gạo cứu tế của Việt Minh nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng tuyệt đối của nhân dân Đức Lập.
Từ đống tro tàn đứng lên giành lấy tự do
Chính sự bóc lột đến tận xương tủy của chế độ "một cổ hai tròng" đã trở thành chất xúc tác mạnh mẽ nhất, thúc đẩy ý chí tự lực cánh sinh và tinh thần quyết tử của nhân dân.
Tháng 5 đến tháng 7 năm 1945: Phong trào chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa tại Đức Lập diễn ra hừng hực. Dưới sự dẫn dắt của Đảng, các hội đoàn thể cứu quốc như Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc được củng cố. Người dân bí mật đóng góp gạo, tiền bạc và rèn đúc vũ khí thô sơ như giáo, mác, mã tấu để chuẩn bị cho ngày phán xét kẻ thù.
Tháng 8 năm 1945: Thời cơ chín muồi khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Đêm rạng sáng ngày 25 tháng 8 năm 1945, hòa cùng làn sóng tổng khởi nghĩa của quận Đức Hòa và tỉnh Chợ Lớn, nhân dân làng Đức Lập với gậy gộc, giáo mác trong tay đã rầm rộ đứng lên lật đổ ách thống trị của chính quyền tay sai. Bộ máy tề xã tan rã hoàn toàn, chính quyền cách mạng về tay nhân dân.
Giai đoạn lịch sử 1944 - 1945 với cảnh tượng "một cổ hai tròng" và bóng ma của nạn đói, thảm kịch bóc lột mãi mãi là một trang sử đau thương nhưng đầy kiêu hãnh của đất và người Đức Lập. Kẻ thù có thể dùng bạo lực và những chính sách tàn bạo nhất để kìm kẹp bao tử và thân xác người nông dân, nhưng không thể dập tắt được khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng trong huyết quản của họ.
Chiến thắng vang dội của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tại Đức Lập chính là minh chứng đanh thép nhất cho thấy: Khi lòng dân đã hóa thành một khối, sự áp bức tột cùng sẽ chỉ là bệ phóng cho một cuộc hồi sinh vĩ đại, đưa những người tá điền chân lấm tay bùn bước ra ánh sáng, làm chủ vận mệnh của chính mình và quê hương.



